Điều hành diễn đàn: laqtri huuhien1269 banglangtim_8867  |  |
| ĐỪNG THÊM NHỮNG THÁNG TƯ | | Tác giả | Bài viết | phamdangquynh Thành viên tích cực
Đăng bài: 98 Xây dựng: 98
Giới tính:  Online: No |
Thời gian: 27/04/2010 13:12 ĐỪNG THÊM NHỮNG THÁNG TƯ | #post2390 | Còn vài ngày nữa là kết thúc tháng tư.Đối với mỗi người Việt nam, tháng tư đến là hiện về bao kỷ niệm buồn vui,bao cung bậc cảm xúc không thể nào diễn tả được.
Chiến tranh đã trôi qua 35 năm rồi.Là một người Việt nam đi qua một phần cuộc chiến,và ít nhiều sống qua hai chế độ,tôi cũng có ít nhiều trăn trở,nghĩ suy, mỗi dịp tháng tư về.
Tôi cũng có dịp đọc khá nhiều những bài viết trước kia cũng như hiện nay,nhưng có một bài viết mà tôi tâm đắc nhất lại là bài viết của nhà thơ,nhà báo Nguyễn Trọng Tạo dưới đây. Các bạn đang hào hứng với việc tổ chức giải bóng đá Nghiatrung.com lần thứ nhất,lòng tôi thầm cảm ơn các bạn và chúc các bạn thành công.
Vì lý do cá nhân không thể đến dự giải được,tôi nghĩ chắc cũng có nhiều quí vị lớn tuổi tâm đắc với nghiatrung.com,vẫn có thể vào trang mạng xã nhà để cổ vũ cho giải.Kính mời quý vị đọc bài viết độc đáo của nhà thơ Nguyễn Trọng tạo:ĐỪNG THÊM NHỮNG THÁNG TƯ...
Lại một tháng Tư sắp qua. 35 tháng Tư qua và hơn thế nữa. Sao người Việt hận thù nhau vẫn còn ghê gớm thế. Tôi đọc trên báo, trên mạng thấy chả ai chịu ai, chả cờ nào chịu cờ nào. Cờ đỏ sao vàng bay khắp cùng nước Việt. Cờ vàng ba sọc phấp phới quận Cam... Một đoàn người hô "đả đảo Việt cộng, đả đảo cộng sản". Dân ta sao cứ đả đảo dân ta? Và cả một chiến sách "chống diễn biến hòa bình" không mệt mỏi. Hòa bình ai chả muốn. Vậy mà lâu nay tôi vẫn không hiểu tại sao lại "chống diễn biến hòa bình"? Có từ gì hay hơn, rõ hơn không? Nếu chống những người âm mưu phản bội lại dân tộc thì cũng nên nói rõ ra, chứ cứ nói lờ mờ thế thật khó mà hiểu nổi. Có lẽ giống ngày xưa đã từng chống "Nhân Văn - Giai Phẩm", toàn là từ đẹp. Thật lạ.
Chống xâm lược thì tất nhiên cả dân tộc phải chống rồi. Chống Pháp, rồi chống Mỹ, rồi chống Bành trướng Bắc Kinh. Gọi là chiến tranh vệ quốc thì tất nhiên là chính nghĩa. Nhưng Pháp cút rồi Mỹ rút, chiến tranh vẫn cứ xảy ra trên đất nước thân yêu. Bọn ngoại bang thật hiểm ác, chúng trang bị vũ khí cho dân ta đánh dân ta. Ừ thì biết là hai phe đối đầu, nhưng dân ta thì khổ, thì chết chóc tang thương. Phải mất hơn 20 năm dân tộc mới đi qua được chiếc cầu Hiền Lương dài 194 mét. Không thể tính được bao nhiêu xác người Việt thì vắt qua được 1 mét cầu. Và dòng sông chia cắt ấy ám ảnh như một "dòng sông máu" trong lịch sử dân tộc. Có lẽ câu thơ Xuân Diệu viết ngày đầu chia cắt đã ám vào máu dân tộc này: "Dòng sông Bến Hải chảy qua tim"! Vậy mà sau bao nhiêu tang thương ấy, ta được tôn đứng tuyến đầu cho phe này phe kia, lại bị chính cái anh phe mình ra đòn Bành trướng, rồi một anh nữa lại lệnh cấm vận ta. Ngẫm mà đau.
Hãy cảnh giác trò "tọa sơn quan hổ đấu". Hãy cảnh giác ngoại bang. Cái khó của những ông vua là làm sao yên dân, và ngoại bang luôn thân thiện. Vậy mà câu nói của Phu-xích luôn văng vẳng đâu đây: "Hãy cảnh giác!".
Vậy thì dân tộc này phải hòa giải. Đó là con đường không thể khác, con đường sống.
Vẫn biết đánh nhau thì kẻ thua người thắng. Nếu không có kẻ thua thì ai thắng được đây. Phải tung hô người chiến thắng. Nhưng cũng phải cám ơn kẻ bại trận chứ. Uýt-man lớn, bởi ông đã viết nên hai câu thơ này:
Hãy nổi kèn lên tung hô đoàn quân chiến thắng trở về!
Hãy nổi kèn lên chúc mừng những người thua chết chìm dưới đáy biển sâu!
Thắng thua thì cũng đã rồi. Vậy mà vẫn cứ đau. Nguyễn Duy đã có lúc đau quá mà thốt lên: "nghĩ cho cùng mỗi cuộc chiến tranh/ phe nào thắng thì nhân dân đều bại". Là nói như Xi-mô-nốp: "Người ta sinh ra không phải để làm lính". Chiến tranh là bắn giết. Nhưng than ôi, họ đều là những con người!
Cứ tưởng đất nước thống nhất rồi chỉ toàn niềm vui. "Non sông thu về một mối" như bài diễn văn chiến thắng đã đọc, nhưng lòng người đã thu về một mối hay chưa? 35 năm vẫn còn trăm mối tơ vò.
Trước khi qua đời, ông Võ Văn Kiệt đã rất đau đớn mà thốt lên: "Ba mươi năm rồi, mà sao dân tộc này vẫn chưa hòa giải đươc?". Câu nói đó cũng là một thú nhận sự bất lực của ông, vì ông từng là Thủ tướng nước này. Nhưng, đó là một lời than có thể chia sẻ được nếu ta vì dân tộc muốn thu về một mối. Tôi chia sẻ với ông vì tôi đã từng nghĩ: Một dân tộc mà lũ trẻ không biết mơ mộng và người già không biết sám hối, đó là một dân tộc bất hạnh. Hãy trân trọng sự sám hối.
Thật khó mà hòa giải được ngay khi phân định thắng bại. Nhưng nếu người chiến thắng dám dang rộng vòng tay, thì người ngã ngựa không sợ mình bị giết. Tôi không nhớ hai từ "hòa giải" xuất hiện sau thống nhất bao năm nhưng hình như cũng chỉ mới đây thôi. Có còn hơn không. Muộn còn hơn không. Tuy vậy, hòa giải thì không thể nói suông. Phải bằng những hành động thực tế. Điều này thì ông Hồ Chí Minh trước đây là một bậc thầy. Ông thu phục được dân chúng, thu phục được nhiều trí thức nhân sĩ Việt ở nước ngoài, còn thu phục được cả đồng minh. Đã làm chính trị thì phải cao mưu, thậm chí thủ đoạn, nhưng cái tâm sáng thì nó sẽ tỏa ra. Ông chọn dương ngọn cờ "độc lập dân tộc" là thượng sách. Dù nhân bất thập toàn, nhưng làm người lãnh đạo hay làm lãnh tụ thì phải vì nghĩa lớn. Người ta trách ông giả làm Trần Dân Tiên để viết về mình, nhưng khi biết điều đó, tôi coi cuốn sách ông viết là một "hồi ký" thì thấy ông viết rất giỏi bởi động cơ và hành động của ông không có gì xấu, mà ngược lại, ông nói về tinh thần yêu nước. Ông nói và làm không khác nhau là mấy.
Lãnh đạo ta đang học gương ông Hồ, nhưng học trò thì cũng ba bảy học trò. Thậm chí có học trò suốt đời lưu ban.
Tuy vậy, không phải tất cả lãnh đạo ở Việt Nam hiện nay không muốn "hòa giải dân tộc". Hòa giải là nguyện vọng cấp thiết của người Việt Nam dù trong hay ngoài nước. Nhưng cái bí nhất là chưa "hóa giải" được. Mà muốn hòa giải được, trước hết phải hóa giải đã. Chúng ta phải làm tuần tự mới hy vọng đươc, phải giải quyết cái dấu "sắc" trước đã, rồi cái dấu "huyền" sẽ đến. Nếu không giải quyết hóa giải hận thù, hóa giải quan niệm dân chủ thì thật khó để tiến tới hòa giải dân tộc được.
Nhìn ngược lịch sử Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua, vấn đề "hóa giải" hiện nay đang là một nan đề. Trước hết là ứng xử của nhà cầm quyền với những người từng "ở phía bên kia" hay đang "ở phía bên kia". Phải có cái nhìn trọng thị. Tốt nhất là hãy nói không phân biệt, như Mỹ nói không phân biệt chủng tộc, và Obama được bầu làm Tổng thống là một minh chứng. Tức là không chỉ nói suông, mà nói đi đôi với làm mới dựng được lòng tin giữa muôn dân. Nên nhìn tổn thất trong cuộc chiến tranh trước 1975 là tổn thất chung của dân tộc dù bên này hay bên kia chiến tuyến. Hãy cầu siêu cho cả những người chiến bại. Hãy tuyên dương những người có hành động giữ nước dù họ ở phía nào.
Thiển ý của tôi thì những người Việt chiến bại trước đây, nếu vì lợi ích dân tộc, vì hòa hợp tiến bộ thì cũng đừng cố chấp những sai lầm của kẻ chiến thắng. Bất kỳ công dân nào mang hộ chiếu Việt Nam đều có quyền ứng cử và bầu cử. Hãy tin vào nhân dân, họ nghèo khổ nhưng tâm lớn, họ phận hèn nhưng minh triết.
Tôi biết vài điều tôi nói chỉ là muối bỏ biển. Nhưng đó là vì lòng tôi muối mặn. Hãy hóa vàng đi hỡi hận thù ích kỷ. Hãy hòa vào nhau hỡi dòng máu Lạc Hồng. Mẹ Việt Nam không thể vui khi anh em thù hận. Không ai mong có thêm những tháng Tư thù hận vẫn còn vương...
Cuối tháng Tư 2010 |
|
 |
| |
phamdangquynh Thành viên tích cực
Đăng bài: 98 Xây dựng: 98
Giới tính:  Online: No |
Thời gian: 29/04/2010 17:08 Re: ĐỪNG THÊM NHỮNG THÁNG TƯ(Dân tộc không có sông Ngân) | #post2406 | Mời quý vị đọc thêm bài trả lời phỏng vấn của giáo sư Cao huy Thuần trên TUẦN VIỆT NAM để chiêm nghiệm và học hỏi .
- Tuần Việt Nam: Thưa ông, mai là ngày 30 tháng 4, kỷ niệm ngày chấm dứt chiến tranh, thống nhất đất nước, Tuần Việt Nam muốn chuyện trò với ông về chủ đề "hòa hợp dân tộc". Trước 1975, ông được biết như là một người có tiếng nói đáng để ý trong khuynh hướng hòa giải hòa hợp dân tộc; ông có thể nói vài lời về khuynh hướng đó, về lịch sử sinh thành ra nó?
GS. Cao Huy Thuần: Trước 1975 hay sau 1975, lúc nào tôi cũng chỉ là một người theo đạo Phật, không đại diện cho ai và cũng không phải là thành phần của một khuynh hướng chính trị nào. Tôi chỉ nói lên những gì mà tôi nghĩ là đúng với đạo Phật, và nếu có ai muốn tìm hiểu về Phật giáo thì tôi có thể góp ý, thế thôi.
- Nhưng, cụ thể hơn nữa, ông được biết đến, trước 1975, như là một tiếng nói đáng để ý trong "thành phần thứ ba", thành phần chủ trương hòa hợp hòa giải.
Tôi chưa bao giờ tự nhận mình như thế, và nếu có ai nói về tôi như thế thì họ cứ nói và tôi cứ cười. Xin trả lời như vậy là đủ về cá nhân tôi.
Còn về "thành phần thứ ba" và "hòa giải hòa hợp dân tộc", tôi có thể trả lời như một người nghiên cứu. Đứng về mặt nghiên cứu, đây là đề tài rất lý thú cho bất cứ ai nghiên cứu về chiến tranh, chiến tranh Việt Nam cũng như mọi chiến tranh khác, bởi vì ở đâu có chiến tranh, hơn thế nữa, ở đâu có chính trị, ở đấy có thành phần thứ ba, dưới dạng này hoặc dạng khác.
Riêng về chiến tranh Việt Nam, các giới nghiên cứu quốc tế đang có khuynh hướng chú trọng đến những diễn tiến đưa đến thương thuyết để chấm dứt chiến tranh. Trong chiều hướng đó, một hội thảo quốc tế về hiệp định Paris 1973 đã được tổ chức tại Đại Học Paris I, vào tháng 5/2008, với sự tham gia tích cực của nhiều chuyên viên Việt Nam đến từ Hà Nội. Thành phần thứ ba là điểm độc đáo nhất, mới lạ nhất, đáng nói nhất, của hiệp định 1973. Nó đã chết non cùng với hiệp định này, nhưng không phải vì vậy mà nó mất cái bài vị của nó trên bàn thờ lịch sử.
- Đây là đề tài chưa được giới nghiên cứu trong nước thảo luận...
Thành phần thứ ba xứng đáng được lịch sử thắp cho nó một cây nhang, như ông Võ Văn Kiệt đã thắp trong một bài viết ở cuối đời. Ông cựu thủ tướng ấy là người đã có lòng thắp nhang cho một nấm mồ vô chủ. Không ai viết tên trên đài chiến sĩ vô danh, cho nên chủ nhân của nấm mồ vô chủ ấy có thể tự nhận mình như chiến sĩ vô danh của hòa giải hòa hợp dân tộc.
- Người chiến sĩ ấy vô danh nhưng có cha đẻ là hữu danh? Bởi vì cha đẻ là hiệp định 1973!
Hiệp định 1973 không phải là cha đẻ mà chỉ là người làm giấy khai sinh. Ai cũng biết, chiến tranh Việt Nam kéo dài cho đến Tết Mậu Thân 1968 thì nhà cầm quyền Mỹ vấp hai phản ứng quyết liệt: phản ứng chính trị đến từ nội bộ; phản ứng quân sự đến từ chiến trường. Đánh mà biết không thắng, tình hình đó tất phải đưa đến thương thuyết. Cái bánh không ăn hết được, tất phải bẻ hai.
Buổi sáng ngày 13/5/1968, cũng như bao nhiêu bạn bè người Pháp và người Việt, tôi đứng chờ hàng giờ trên đường phố dẫn đến hội trường Kléber, nơi bốn phái đoàn họp lần đầu để thương thuyết, và đã cảm động đến ứa nước mắt khi bốn chiếc xe với bốn lá cờ được hộ tống oai nghiêm đến phòng hội nghị. Bốn lá cờ: Mỹ, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Chính Phủ Cách Mạng Miền Nam, Việt Nam Cộng Hòa. Tôi ứa nước mắt vì nghĩ mình sắp được trở về quê hương thanh bình. Lầm to! Thương thuyết kéo dài 5 năm! Năm năm đằng đẵng! Nín thở cho đến 1973 hai lá phổi mới nhận lại không khí. Hiệp định Paris ngưng chiến tranh Việt Nam được bốn bên ký vào ngày 27/1 năm ấy. Chiều ngày 27, tôi lại ứa nước mắt lần nữa khi ngồi một mình trong công viên Montsouris nhìn mấy con vịt bơi trong hồ. Tôi thầm nói với vịt: từ giã mày nhé! Lại lầm to! Hiệp định bị chiến sự xé toạc! Vừa khai sinh đã chết yểu!
- Ai xé?
Chiến sự. Giá như những người cầm quyền Việt Nam Cộng Hòa hồi đó khôn ngoan, không chừng họ còn đất sống. Nhưng Việt Nam Cộng Hòa, từ ông Diệm đến ông Thiệu, chưa bao giờ được cai trị bởi những người khôn ngoan, chừng mực. Ông Diệm tham ăn tôn giáo. Ông Thiệu tham ăn hết cả cái bánh tuy hàm răng của Mỹ không còn. Nạn nhân của ông là tất cả những ai bị ông đẩy vào chiến tranh khi chiến tranh trong tay ông đã hết phù phép. Ông nhìn không xa hơn cái mũi. Và mũi ông là cái cò súng, tuy hết đạn viện trợ. Hiệp định Paris 1973 là cơ hội ngàn năm một thuở để ông Thiệu cứu ông và cứu dân tộc. Để ông cùng với dân tộc đi vào hòa bình khi chính ông đã bị Mỹ bỏ rơi. Nhưng ông ấy nghĩ: đi vào hòa bình là đi vào tử lộ. Ông sợ nhiều thứ mà sợ nhất là "thành phần thứ ba"!
Hiệp định 1973 nói rõ: chấm dứt chiến sự; người Mỹ rút lui; thành lập một hội đồng hòa giải hòa hợp dân tộc để người Việt giải quyết vấn đề của người Việt; hội đồng sẽ tổ chức bầu cử tự do ở miền Nam và gồm ba thành phần bình đẳng với nhau: chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, chính phủ cách mạng miền Nam, thành thần thứ ba. Thành phần thứ ba là ai? Chưa biết. Nhưng chưa biết mà ông Thiệu đã sợ. Ông sợ, vì ông chỉ có súng mà không có dân. Hết chiến tranh, hết súng. Hết ngoại thuộc. Hết chỗ dựa. Ông sống với ai, ai bầu cho ông? Trong chiến tranh, ông chọi một, mà đã chọi không nổi. Bây giờ mất súng mà còn phải chọi hai, sức đâu? Cho nên tay ông ký, vì bị Mỹ ép, mà bụng ông đã mở cờ xé chữ ký khi mực chưa khô.
Chẳng có ai là cha đẻ của thành phần thứ ba cả. Thành phần thứ ba không có cha. Họ chỉ có mẹ. Họ tuyên bố: mẹ của họ tên là Việt Nam. Cho nên tên của họ cũng là Việt Nam. Họ gọi mẹ thống thiết: Mẹ Việt Nam! Mẹ Việt Nam! Họ làm thơ tặng Mẹ. Họ hát tặng Mẹ. Họ vào tù vì Mẹ. Họ tuyệt thực. Họ ăn lựu đạn cay. Tất cả chỉ vì một bà mẹ mà họ thấy rách nát đạn bom. Muốn tìm họ ở đâu lúc đó không khó: chỉ cần nghe ở đâu có tiếng gọi mẹ. Tiếng ấy thốt ra từ 1964. Từ 1964.
Mẹ chẳng biết trong những đứa con bà
Đứa nào là quốc gia đứa nào là cộng sản
Mẹ chỉ biết những buổi chiều rất tím
Và máu thằng anh cũng đỏ như máu thằng em.
- Có một nhận định khác, nói như thế này: khi ký hiệp định 1973, ông Thiệu nghĩ mình cũng có trong tay một "thành phần thứ ba" nào đó sẽ theo mình vì sợ cộng sản. Nhận định đó có cơ sở không?
Bất cứ người nghiên cứu nào về những "lực lượng ở giữa" trong bất cứ hoàn cảnh chính trị ở bất cứ nước nào đều biết rằng những lực lượng đó chỉ có thể đứng trên một trong hai vị thế sau: hoặc như một khối độc lập ở giữa, hoặc phân ra làm hai cánh, một cánh nghiêng theo phe tả, một cánh nghiêng theo phe hữu. Đại diện mô hình thứ nhất là chính trị nước Pháp sau Cách Mạng 1789. Phe cách mạng và phe phản cách mạng không ai hạ được ai lâu dài, cho nên, trừ vài khoảng thời gian rất ngắn, sức nặng chính trị quy vào những thành phần ở giữa. Đại diện mô hình thứ hai là chính trị nước Anh. Hai đảng, và chỉ hai đảng, hút vào hai cực như nam châm, các khuynh hướng ở giữa không có đất cắm dùi.
Tình hình năm 1973 ở miền Nam thiên về mô hình thứ hai tuy đồng minh của cánh hữu càng ngày càng mất nhuệ khí và mất dân. Dù vậy, ở giữa vẫn không phải là một khối đồng nhất, vẫn là hai nửa xa lạ nhau trên câu hỏi căn bản: Anh muốn chiến tranh hay anh muốn hòa bình? Anh muốn ngoại thuộc hay anh muốn tự trị? Mậu Thân đào thêm hố chia rẽ giữa hai nửa với nhau, anh bên phải cười anh bên trái là ngây thơ. Bởi vậy, giá như hiệp định 1973 được thi hành, vấn đề cử ai đại diện cho thành phần thứ ba vào Hội đồng hòa giải hòa hợp dân tộc đủ để gây bão táp phong ba mới. Bản thân tôi đã thấy trước gay cấn đó từ 1964 vì tai đã nghe:
Chính chúng ta phải có mọi quyền
Quyết chối từ chém giết anh em
Chính chúng ta phải nói Hòa Bình
Đứng lên đòi thống nhất anh em.
"Thành phần thứ ba ngây thơ" đã thai nghén từ dạo ấy, từ Huế, từ sinh viên của trường đại học trẻ trung ấy, từ tiếng thơ ấy, từ tiếng lòng trong trắng ấy, từ miệng của những đứa trẻ mồ côi ấy gọi mẹ. Bởi vậy, thành phần thứ ba vừa có vừa không. Có trong lương tâm của mọi người Việt Nam. Không, như một thực thể chính trị. Nói tôi là thành phần thứ ba, tôi cười, vì tôi vừa không vừa có.
- Ông không xem chính phủ Dương Văn Minh thành lập ở Sài Gòn vào những ngày tận cùng của chiến tranh là hiện thực chính trị, dù chớp nhoáng, của thành phần thứ ba?
Thành phần thứ ba chỉ hiện hữu khi nó là không. Biến không thành có vào lúc ấy là chuyện lấy mây vá trời.
Dân tộc là một, không có bên ngoài với bên trong!
- Trở về hiện tại, ông quan niệm thế nào về hòa hợp dân tộc hiện nay? Ông đánh giá thế nào về những cố gắng của Nhà nước để gây hòa hợp với người Việt ở nước ngoài? Mẹ Việt Nam giờ đây không còn rách nát nữa mà hùng dũng đứng lên với thế giới. Tiếng gọi bây giờ không phải là con gọi mẹ nữa mà là mẹ gọi con. Con có nghe mẹ gọi chăng?
Cả hai đang gọi nhau và cả hai cần thông cảm với nhau. Trong nhiều tích xưa, kẻ thắng thường kính trọng những kẻ bại trượng phu, và đã là trượng phu với nhau thì không có ai thắng ai bại trên lĩnh vực khí phách. Cũng trong tinh thần trượng phu ấy, kẻ thắng thường biết hạ mình. Hạ mình để được người. Đó là vương đạo. Hãy bằng vương đạo mà hòa hợp, mà nghe nhau. Và nghe với tình cảm, chứ không phải chỉ nghe vì lợi ích vật chất.
"Việt kiều" mua nhà được không, đó là lợi ích vật chất. Lợi ích đó cũng quan trọng lắm, nhưng đó vẫn chưa phải là hòa hợp dân tộc. Nhà nước đã làm được rất nhiều chuyện trên lĩnh vực lợi ích vật chất, nhưng tại sao tâm lý chung vẫn là, nói như thơ Xuân Diệu, "lại gần nữa thế vẫn còn xa lắm"? Tại vì vấn đề không phải là lợi ích vật chất, và càng đắn đo suy tính chi ly trên từng lợi ích như vậy năm này qua năm khác, càng chứng tỏ tình cảm mẹ con thiếu vắng đậm đà.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, phân biệt dân tộc ra kẻ ở bên trong với kẻ ở bên ngoài, kẻ nắm một hộ chiếu hay hai ba hộ chiếu, dần dần mất tính chính xác và tính chiến lược. Chưa kể mất luôn tình cảm. Ta thường hay chép miệng so sánh ta với người Hoa. Sao cộng đồng người ta như thế mà cộng đồng của mình như thế? So sánh sao được! Hồi Tưởng Giới Thạch "mất nước", ông đâu có phi thân qua Mỹ? Người Hoa trên thế giới đâu có phải là sản phẩm xuất khẩu của đại thắng 1949?
Đừng nói tình tự dân tộc của người Việt thua người Hoa! Người Việt có những vấn đề mà người Hoa không có vì hoàn cảnh của họ không giống người Hoa! Người Hoa thuận lợi trong mối gắn bó của họ với đất mẹ vì họ cùng nhục cùng vinh với người cầm quyền trên đất ấy. Cái nhục mà họ đã nuốt là cái nhục mà Mao, mà Đặng đã cùng nuốt, cái nhục bị Tây phương xẻ thịt. Cái vinh mà họ hưởng là cái vinh mà Giang, mà Hồ đã mang lại cho họ, cái vinh của một nước bá vương.
Lịch sử sau lưng họ không phải là chiếc thuyền nan mà là tấm biển nơi công viên "cấm chó và người da vàng". Lịch sử trước mắt họ không phải là dấu hỏi cô đơn trên trang giấy trắng mà là thảm đỏ mênh mông trải khắp địa cầu, trải đến đâu Vạn lý trường thành lan ra đến đấy. Họ không có vết thương rỉ máu nên không cần thở than với thuốc dán con rắn. Họ béo tốt, phương phi vì nhận được sâm nhung bổ thận cùng với thế vận hội, phi thuyền do thám cung trăng, thế giới chia hai với Mỹ. Hoàn cảnh họ khác ta, làm sao so sánh được! Cái gì mà mẹ con ta phải học được nơi họ là mối san sẻ cùng vinh cùng nhục với người cầm quyền. Vinh nhục của một dân tộc mới là chuyện đáng nói; mấy cái lợi ích vật chất bèo bọt kia thấm béo gì!
Lãnh đạo hợp lòng dân, ấy là hoà hợp!
- Vậy hòa hợp dân tộc phải quan niệm một cách khác? Cách gì?
Dân tộc là một, không có bên ngoài với bên trong. Khi nghe tin ngư phủ của ta bị "tàu lạ" bắt giữ trong chính biên giới lãnh hải của ta, máu của bên trong có nóng hơn máu của bên ngoài chăng? Vinh nhục có khác nhau chăng? Có cần hòa giải hòa hợp để cùng chung phẫn uất chăng? Khi mới đây tỉnh Quảng Trị làm lễ cầu siêu cho binh sĩ tử trận trong những cuộc chiến kinh hoàng xóa nát cả thành phố, có bên nào, trong hay ngoài, đặt vấn đề chỉ tụng kinh gõ mõ cho quân phục này hay quân phục kia chăng? Có ai không thấy dân tộc hiện nguyên hình là một chăng? Đâu là trong đâu là ngoài khi chạm đến thiêng liêng? Ai dám nói Tổ Quốc không là thiêng liêng đối với đồng bào ta ở Mỹ?
- Để vấn đề được thông suốt, tôi xin đưa ra một giả dụ, tất nhiên chỉ là một giả dụ. Giả dụ Nhà nước ta tuyển mộ chí nguyện quân để bảo vệ chủ quyền của ta trên các hải đảo, và giả dụ các chiến sĩ cũ của Sài Gòn trước đây xung phong tòng quân: họ chấp nhận vui vẻ chiến đấu dưới lá cờ "mới"?
Để vấn đề được thông suốt, tôi cũng nới rộng chuyện thêm. Đây là chuyện của nước Pháp, một biến cố thú vị trong lịch sử Pháp. Năm 1870, Napoléon III thất trận ở Sedan, bị Đức cầm tù cùng với 83.000 tù binh. "Nàng ơi, quân ta thua, ta bị cầm tù", vua đánh điện về cho hoàng hậu vỏn vẹn mấy chữ ngắn gọn như vậy. Và ngắn gọn, Quốc hội truất phế vua, chấm dứt Đế Chế, tái lập Cộng Hòa, bầu lên chính phủ lâm thời để tiếp tục chiến tranh.
Nhưng Pháp kiệt quệ quá rồi trước binh lực của Bismarck, cầm cự được ba tháng thì phải xin thương thuyết. Bismarck tuyên bố chỉ thương thuyết với một chính phủ thực sự đại diện thôi; yêu sách đó buộc Pháp phải bầu lại một Quốc hội mới. Quốc hội mới được bầu lên, phe quân chủ đa số. Từ ngoại quốc, công tước Chambord chuẩn bị về nước để lên ngôi. Nước Pháp lại sắp có tân vương, tái lập quân chủ. Nghi lễ đã trù liệu hẳn hoi, áo mão xe ngựa đã đâu vào đấy tề chỉnh. Bỗng, đến phút cuối, ngài công tước gửi một thông điệp đến Quốc hội đòi triệt hạ cờ tam tài, trương cờ trắng lên: cờ trắng là cờ của vua, cờ của ngài. Ngài viết: "Cờ ấy đã phất phới trên nôi của Ta, Ta muốn cũng cờ ấy che bóng cho Ta trên mồ". Nghe vừa hào hùng, vừa lãng mạn. Nhưng ngay cả những dân biểu quân chủ chính thống nhất trong Quốc hội cũng lắc đầu trước thái độ hào hùng lỗi thời ấy.
Lá cờ tam tài của Cách Mạng 1789 đã trở thành chính đáng, đã nhuốm máu của dân quân hy sinh trên khắp chiến trường, đã trở thành lá cờ của dân tộc. Huống hồ, cờ trắng là cờ riêng của các vua ngày trước, chỉ chính thức là cờ của nước Pháp trong khoảng thời gian 15 năm, thời quân chủ phục hồi 1815-1830. Trước Cách mạng, nước Pháp không có cờ chính thức, cờ trắng chỉ là biểu hiệu của vua, vua đi đâu cờ trắng đi đầu. Công tước Chambord muốn cờ trắng bọc thây thì cũng chẳng sao, nhưng ông muốn cờ ấy cũng là linh hồn của nhân dân, của nước Pháp, thì chẳng mấy ai gật đầu với ông. Cho nên ông chẳng bao giờ làm vua. Ông mất ngôi vì một lá cờ. Cộng Hòa lại trở về với nước Pháp. Và cờ tam tài phất phới.
Tôi không có ý so sánh trường hợp của Chambord với trường hợp của một số cộng đồng của ta ở Mỹ. Chambord áp đặt cờ của vua trên cờ của dân tộc. Đồng bào ta ở Mỹ áp đặt gì ai? Họ chỉ gắn bó với một phần đời của họ. Và nếu phần đời ấy là riêng tư, ta nên tôn trọng như một thiêng liêng riêng tư và trao cho thời gian giải quyết vấn đề của thời gian. Tôi nêu trường hợp Chambord chỉ cốt để gợi lên cái ý cờ riêng và cờ chung. Trong những điều kiện tốt đẹp nào đó mà bà con ta cảm thấy nhận được từ phía Nhà nước, tôi nghĩ họ cũng sẽ có cách giữ được sự trung thành của họ trong tình cảm đối với một biểu tượng cũ riêng tư, và chấp nhận trên lý trí mảnh hồn chung của dân tộc phất phới vinh quang trên đất nước mà họ hãnh diện là thành phần. Vấn đề là hãnh diện chung, vinh quang chung. Có cái vinh ấy, cái tự hào ấy, cùng chia sẻ chung với người cầm quyền, chuyện gì cũng giải quyết được.
- Ông có nghĩ là Nhà nước cũng rất quan tâm về điều đó?
Có chứ! Tất nhiên là có! Ai cũng phải công nhận Nhà nước đã có thiện chí làm được nhiều chuyện, rất nhiều chuyện. Ai cũng thấy tận mắt mối quan hệ càng ngày càng tốt đẹp khi người Việt ở xa đặt chân lên quê hương. Bước qua hải quan năm 2010, tôi tưởng chân mình mang hài bảy dặm so với hải quan ngày trước. Bao nhiêu việc tôi có thể làm được ngày nay, khó tưởng tượng được ngày xưa. Chỉ những ai xấu lòng mới phủ nhận những thành tích to lớn đó. Nhưng điều mà tôi muốn nói không phải là những chuyện đó. Đó chưa phải là hòa hợp, lại càng chưa phải là hòa hợp dân tộc. Bởi vì đã gọi là dân tộc, sao còn phân biệt ngoài với trong? Sao còn chia năm xẻ bảy hạng người Việt này với hạng người Việt khác? Dân tộc không có sông Ngân. Người Hoa không có biên cương. Người Do Thái không có biên cương. Nếu có một bài học phải học nơi thành phần thứ ba ngày trước thì đó là hình ảnh bà mẹ không phân biệt con cái.
Từ sự không phân biệt đó, hãy suy nghĩ: điều gì đem lại hòa hợp ở bên trong, chắc chắn cũng đem lại hòa hợp với bên ngoài. Vậy, câu hỏi chỉ còn là: điều gì đem lại hòa hợp? Hỏi đứa con nào, trong hay ngoài, người mẹ cũng nghe một lời duy nhất: xây dựng một Nhà nước trong sạch, dân chủ. Mẹ mà làm được như vậy, con nào ở xa mà chẳng thấy Tổ Quốc của mình phất phới trên lá cờ chung? Khỏi cần chiêu dụ nhân tài: nhân tài sẽ quy về một mối. Khỏi cần kêu gọi đầu tư: tiền bạc sẽ đổ về một cõi. Máu chảy về tim: khỏi cần ve vuốt núm ruột ở xa. Quê hương nóng hổi ruột gan: khỏi cần thơ văn khế chua khế ngọt.
Từ lâu, ai cũng đều biết mối tình thắm thiết giữa Đảng và dân trong thời giành độc lập, trong thời chiến tranh. Cách mạng đã chiến thắng vì Đảng và dân hòa hợp. Đảng biết hòa hợp vì Đảng biết lãnh đạo. Chắc chắn Đảng cũng biết: lãnh đạo trong chiến tranh khác với lãnh đạo trong hòa bình, lãnh đạo trong xã hội nông nghiệp khác với lãnh đạo trong xã hội tri thức. Ta đã từng nghe nói nhiều từ lời của chính Đảng: phải nhận thức lại phương cách lãnh đạo, phải nhận định lại khái niệm lãnh đạo. Biết mới khó, làm không khó. Làm được thì hợp lòng người, hợp dân chủ. Hòa hợp dân tộc giản dị chỉ có vậy. Không có trong, không có ngoài. Không có người Việt ở gần, không có người Việt ở xa. Tổ tiên đã dạy chúng ta: trăm con cùng trong một trứng. Và nếu mẹ Tiên có dẫn 50 con lên núi, cha Rồng có dẫn 50 con xuống biển, ấy là để bảo vệ Lạng Sơn, ấy là để gìn giữ Biển Đông.
Tình tự dân tộc của người Việt không thua gì người Hoa. Ngày nay, nếu con cái bung ra ngoại quốc, cũng nên xem như cha Rồng dẫn đi để chinh phục toàn cầu hóa, đem lợi ích cho mẹ Tiên. Với tinh thần bảo bọc như thế, mọi vấn đề sẽ được giải quyết hợp tình, hợp máu mủ: nào quốc tịch, nào nhà cửa, nào hộ chiếu, nào quyền lợi, nào bổn phận. Giải quyết những vấn đề đó không phải là hòa giải hòa hợp. Đó là lãnh đạo. Lãnh đạo hợp lòng dân, ấy là hòa hợp. Hòa hợp dân tộc không phải là hòa giải giữa trong với ngoài. Đó là hòa hợp giữa dân với Đảng, giữa Đảng với dân.(Anh Minh thực hiện). |
|
 |
| |
quynhtrang Thành viên gắn bó

Đăng bài: 127 Xây dựng: 128
Giới tính:  Online: No |
Thời gian: 30/04/2010 00:42 Re: ĐỪNG THÊM NHỮNG THÁNG TƯ | #post2407 | 2 bài sưu tầm của anh phamdangquynh rất hay,trong bài thứ nhất tôi thích nhất câu:" Tôi biết vài điều tôi nói chỉ là muối bỏ biển.Nhưng đó là vì lòng tôi muối mặn"
Vâng! đúng là lòng có muối mặn mới có những lời bi thiết như thế.Anh Quỳnh tuy chỉ sưu tầm nhưng tôi nghĩ lòng anh cũng vẫn "mặn"! hoan nghênh anh lắm!.,nhưng rất tiếc trên diễn đàn này(kể cả những diễn đàn khác nữa)bây giờ số độc giả "hic hic,hehe,haha,k0 bit,bùn wá..."hơi nhiều,nên thành ra không ai ừ hử gì với anh cả!,làm anh cũng cô đơn và không chừng lại bị "quê" nữa?!.
Đọc 2 bài sưu tầm của anh chắc cũng có người cho anh là nhiều chuyện,nói ba chuyện tào lao...như đã từng có ý kiến như vậy với những bài viết có nội dung tương tự.
Thời đại này chỉ cần có nhiều tiền là được,buổi sáng thì caphe,chiều thì tụ tập uống mấy lon bia,tối thì xem Mỹ Tâm,Đan Trường hay đi siêu thị,,được như vậy thì gọi là thành đạt lắm rồi?
Nhưng cũng không trách gì được anh Quỳnh ạ!,anh cứ xem đi: học sinh,sinh viên bây giờ lúc còn ngồi trên ghế thì ngoài những môn khoa học tự nhiên ra,nhà trường dạy những môn xã hội như là những nghị quyết,như là những khẩu hiệu,rồi xôn xao với sinh họat đòan,rung chuông vàng,cắm trại,về nguồn...,thật sự nhà trường đã hút SVHS vào một phong trào cò định hướng rõ ràng,nên lớp trẻ bây giờ không có những "trầm tư,mặc tưởng" để suy nghĩ và hiểu về thân phận con người,thân phận dân tôc!,vì chỉ học theo định hướng và vui chơi theo định hướng.
Khi ra trường thì cũng "bị" định hướng luôn:"Làm việc năng động và hiệu quả để làm giàu cho đất nước" và phần vì cuộc sống phải quần quật kiếm tiền nên chắc chắn phải bị "đầu tắt mặt tối" thôi!.,nên còn "trầm tư mặc tưởng" gì được nữa!?
Chính vì vậy, bài sưu tầm của anh không chừng bị "Xưa hơn Diễm" đấy!
Tội nghiệp anh ghê!
Nhưng anh ơi,nếu lòng anh vẫn "mặn" thì mong anh hãy cứ sưu tầm để cho ai đó có "mặn" như anh thì cũng được chỗ chia sẽ hoặc ai chưa "mặn" thì dần dần biết đâu họ sẽ thèm thuồng vị "mặn" này...biết đâu!
Ngày 30/4 hàng năm là nhân dịp để nói lên những bồi hồi,cảm xúc khi nghĩ về đất nước nên ít nhiều phải dính dáng đến chuyện Chính Trị,mà nói chuyện Chính trị thì theo anh laqtri là không cấm và có lần tôi nghe anh nói lá nói chuyện chính trị mà nói như anh Bùi Tá Hòang Vũ,anh Nguyễn Diệp thì có lợi lắm!
Rất tiếc anh Vũ và anh Diệp lại không lên diễn đàn và lại càng tiếc hơn khi 30/4 đã cận kề mà không được nghe anh Vũ và anh Diệp nói chuyện Chính trị thì uổng quá!
Nếu được nghe 2 anh nói thì hy vọng diễn đàn chắc sẽ có nhiều thú vị và được có lợi nữa.(như anh laqtri đã nói)
Tiếc quá!
Xin tản mạn cùng anh Quỳnh và anh chị em.
QT
|
|
 |
| |
phamdangquynh Thành viên tích cực
Đăng bài: 98 Xây dựng: 98
Giới tính:  Online: No |
Thời gian: 30/04/2010 11:46 Re: ĐỪNG THÊM NHỮNG THÁNG TƯ | #post2408 | Xin cảm ơn những lời chia xẻ chân thành nhưng thấm thía của quynhtrang.
Những ngày cuối tháng tư năm nào cũng vậy,lòng tôi cũng dạt dào cảm xúc.Tôi đã tìm đọc khá nhiều những ý kiến,bài viết ,nói về ngày này.Những ý kiến của cả hai phía,của người trong cuộc,người ngoài cuộc.Và 2 trong số đó là những ý kiến khá mới mẻ và sâu sắc tôi đã mạnh dạn đưa lên nghiatrung.com để anh em có tuổi đọc.
Đề tài này tuy là” thời sự” nhất hiện nay nhưng khi đưa lên đây tôi không bất ngờ khi biết ít có người đọc.Tôi cũng không bất ngờ khi quynhtrang comment cho tôi.Có chăng tôi chỉ bất ngờ là quynhtrang không chỉ tâm đắc với các tác giả mà còn khá đồng cảm với tôi!
Tác giả bài thứ nhất đã cho rằng những điều ông nói như muối bỏ biển,thì dù diễn đàn này có sôi động đến mấy,những ý kiến của ông ta cũng phải chịu cảnh đìu hiu.
Lòng ông đang muối mặn,lòng tôi muối mặn,và nếu tôi không lầm ,lòng quynhtrang cũng muối mặn.Ở đây là chính trị mà phi chính trị.Mọi sự vô cảm đều không đáng tiếc nếu không giống như cách của loài đà điểu.
Một bà Đỗ ngọc Bích(dân Hà nội),đang học cao học tại Mỹ,viết bài qua BBC lớn tiếng mạt sát người Việt nam theo chủ nghĩa dân tộc,quên nguồn gốc là từ…nước lạ.Thử hỏi anh em ta mấy ai biết?May là sau đó có tờ PLTPHCM mạnh dạn đưa tin.Trong khi đó trên cộng đồng mạng đã dấy lên một cao trào phản đối mạnh mẽ chưa từng có,thậm chí người ta còn gửi thư cho cả ông tổng giám đốc đài BBC đòi cách chức ông Nguyễn Giang,trưởng ban Việt ngữ.Vậy rau nào thì sâu nấy,quynhtrang chớ bận tâm.
Khi còn sống,ông Võ văn Kiệt từng nói ngày 30 tháng 4 có triệu người vui mà cũng có triệu người buồn.Đây là câu nói để đời,thể hiện sự nhìn nhận sáng suốt mà bao dung của vị lãnh đạo cộng sản cao cấp này.
Chúng ta vui vì hết cảnh chiến tranh đẫm máu,nhưng còn đó những băn khoăn.Hàng triệu người VN phải sống xa tổ quốc( hàng năm tuy có gửi về hàng chục tỉ đô la kiều hối)nhưng chưa sẵn lòng quay về với đất Mẹ.Hàng trăm ngàn tử sĩ VNCH bỏ mình trên đất Mẹ nhưng hương hồn vẫn chưa được về với gia đình.
Một ngày kỷ niệm nên tương xứng với mối quan hệ Việt Mỹ nay đang trên tầm cao mới.
|
|
 |
| |
phamdangquynh Thành viên tích cực
Đăng bài: 98 Xây dựng: 98
Giới tính:  Online: No |
Thời gian: 30/04/2010 22:13 Re: ĐỪNG THÊM NHỮNG THÁNG TƯ | #post2410 | BA ĐIỀU ƯỚC 30 THÁNG 4
Phạm Toàn(nhà giáo)
Tôi được một bạn bên Vietnamnet mời viết một bài và “đặt hàng” hẳn hoi: hãy nói về hòa hợp và hòa giải dân tộc. Sau một ngày suy nghĩ, tôi từ chối, và nói rất rõ: tôi không đủ tư cách nói những điều quá to tát đến thế.
Tôi vốn chỉ quen với hai chuyên môn hẹp: một là, dạy tiểu học và soạn sách bậc tiểu học, một việc nhỏ nhưng tôi vô cùng gắn bó, và hai là, rất nhiều khi viết văn, dịch sách, làm thơ, nhưng chỉ làm như một thú vui chứ không coi đó là một nghề sống chết với nó.
Chết nỗi, người bạn VNN cứ kiên quyết chối từ lời từ chối của tôi. Thế là đành liều viết đôi lời, như một bộc bạch tấm lòng công dân.
* * *
Có một hành động của tôi vào năm 1976 cứ nghĩ sẽ giữ kín mãi, sống để bụng chết mang đi, nay xin bộc lộ: năm đó, vào đúng ngày 30 tháng Tư, ngồi một mình, nghĩ ngợi lẩn thẩn thế nào, lại viết một lá thư gửi một người tôi tin là đồng chí đó sẽ thừa hiểu mấy điều “vô cùng hợp lý”.
Xin nói luôn là thư của tôi không có hồi âm.
Nội dung thư của tôi mang ba kiến nghị như sau:
Kiến nghị thứ nhất xin xóa thuế nông nghiệp cho nông dân trong vòng 20 năm. Hai mươi năm xóa thuế không chỉ có nghĩa là ban ơn hoặc tỏ lòng biết ơn. Mà đó là hai mươi năm tổ chức lại cuộc sống nông thôn. Cái mốc 20 năm là một thời hạn và cũng là một điều thách thức với ước mong thay đổi tận gốc cuộc sống của người dân quê quá đau khổ vì loạn lạc, đói kém, và ít học.
Kiến nghị thứ hai xin đốt lý lịch toàn dân và “viết lại” tính từ ngày 1 tháng 5 của một năm nào đó. Sở dĩ có cái ý nghĩ dẫn tới kiến nghị này, là vì tôi thấy đâu đâu cũng khổ vì chuyện lý lịch. Con người bị phân biệt đối xử qua bản lý lịch. Và họ cũng đối xử phân biệt nhau qua bản lý lịch. Về sau, khi đất nước đã mở cửa, tôi dạy tiếng Việt cho trẻ em tiểu học trường Quốc tế Pháp tại Hà Nội, nên có dịp đọc bản lý lịch của “Tây”, và thấy đề nghị của mình đúng, ít nhất là không sai. Bản lý lịch của “Tây” tính từ hôm nay ngược về trước (“anh có thể làm gì ngay lúc này?”) còn bản lý lịch của Ta đi từ ngày trước về hôm nay (“anh là con nhà ai, anh đã làm được gì?”).
Kiến nghị thứ ba gợi ý Việt Nam chủ động yêu cầu Hoa Kỳ và Liên Xô từ nay không được gửi vũ khí qua đây, mà chỉ gửi rất nhiều những thanh niên nam nữ sang cùng phát triển văn hóa, nghệ thuật, tạo ra một cái mẫu cho toàn thể thế giới làm theo. Kiến nghị này của tôi được đưa ra khi đó Liên Xô vẫn còn là ông khổng lồ hùng mạnh. Nhưng vào năm 1976, giá như thực hiện kiến nghị của tôi, thì có khi có thể sửa được nhiều tật xấu cố hữu của phe ta chứ chẳng chơi! Biết đâu là chừng, Liên Xô có khi không tan rã ấy chớ! À, nhưng mà Lịch sử làm gì có chữ “nếu”?!
Nghe đến đây, thật quá dễ để chê trách tôi là người sống với ảo tưởng! Mắc tiếng ảo tưởng thì có sao? Bất kỳ ai biết đọc sách hẳn đều nhớ rằng cuộc cách mạng Pháp 1789 long trời lở đất, tác giả viết hoa của cái Vật viết hoa đẹp đẽ nhât và cũng xấu xí nhất của loài người là cái máy chém, sau hàng chục năm đầu rơi máu chảy, cũng vẫn thích quay về với cuộc sống không có cái máy chém. Thử phân tích thêm, hẳn sẽ có ích cả cho mình, và biết đâu chẳng có ích cho người khác nữa?
Thói quen dạy học bắt tôi phân biệt giữa đề tài và chủ đề. Cái đề tài nằm trong lá thư gửi một cấp rất cao, nhưng thư đã không tới nơi, hoặc thư tới nơi mà không bõ xét giải quyết, cái đề tài đó là: làm gì sau khi đất nước đã độc lập và thống nhất? Nhưng chủ đề của nó lại không chỉ dừng lại ở việc làm gì (đề tài) mà là làm cái gì đó để có cái gì (chủ đề)?
Trong một tác phẩm, một chủ đề bao giờ cũng là thứ ám ảnh nhà văn, còn đề tài thì chỉ là những vật liệu, xây cái nhà thì nên cái nhà, xây cái lều vịt thì nên cái lều vịt. Vậy thì cái đề tài ám ảnh tôi ngay từ khi tôi gửi lá thư ám ảnh ba điều kiến nghị là gì? Đó là chủ đề về hòa giải và hòa hợp dân tộc như luồng gió ấm áp vẫn đang thổi mạnh dần trong mấy năm nay.
Chỉ có điều là, chuyện hòa giải và hòa hợp dân tộc không thể diễn ra như trong những ảo tưởng tốt bụng, như trong những giấc mơ ban ngày, mà có lẽ phải cần hơn tới những góc nhìn thực tế.
Ta sẽ thấy ngay từ đầu là, công việc hòa giải và hòa hợp dân tộc, tuy đặt ra chung cho mọi người Việt Nam ở khắp mọi nơi trên trái đất này, nhưng nó phải và chỉ có thể thực hiện trước hết ở ngay trên mảnh đất Việt Nam. Nếu ngay trên mảnh đất Việt Nam này mà những con người tại chỗ chưa chung tay xây đắp nên những nền tảng của hòa giải và hòa hợp dân tộc, thì sẽ là đỉnh cao của mọi ảo tưởng nếu cứ sà sã kêu gọi xuông. Đàn con chỉ quay về tổ khi thấy cái tổ đó đáng để quay về. Còn không, thì bây giờ thời toàn cầu hóa, ngã đâu là nhà, đăng ký đâu là giường, phận lưu vong bây giờ cũng không như đầu thế kỷ trước nữa, vì chỉ một lẽ, chủ nghĩa tư bản (đại thọ) bây giờ cũng không như trước nữa; thực tình thì chính cái thứ chủ nghĩa tư bản ở các quốc gia tân tư bản chủ nghĩa mới là mảnh đất con người lưu vong khó sống. Nói cách khác, hòa giải và hòa hợp dân tộc trong thời đại ngày nay là việc của thực lực, không còn là việc tuyên truyền.
Vấn đề đặt ra là: thế nào là cái tổ đáng cho mọi người tụ hội nhau về đó mà hòa giải và hòa hợp dân tộc? Cái tổ này phải thực sự là nơi có độc lập, tự do, hạnh phúc như ở mọi nơi con dân nước Việt đang sống và đang đòi được sống đúng với cái chuẩn mực do chính Tổ quốc Việt Nam xướng xuất từ 2 tháng 9 năm 1945. Cần phải thấy là, ngay con em những người xa xứ ít học nhất khi xưa thì nay cũng đã quen sống trong nền văn hóa độc lập thực sự, tự do và hạnh phúc thực sự. Họ không chỉ nhìn thấy, nghe lỏm thấy, mà chính họ thừa hưởng chế độ giáo dục và chữa bệnh không mất tiền. Chính họ sống trong tự do báo chí và tự do lập hội, để mọi nguyện vọng của họ đều được nói to lên và nhẫn nại đợi chờ nguyện vọng được thỏa mãn cùng với các loại van an toàn cho cá nhân họ và cho toàn cộng đồng.
Tôi không đủ tầm nhìn xa trông rộng để có thể phân tích nhiều hơn mấy điều vừa nghĩ ngợi.
Ấy thế rồi, nghĩ đi nghĩ lại, vẫn cứ thấy ba điều khuyến nghị – ba điều ước xưa của mình cách nay hơn ba mươi năm hình như vẫn rất gần. Đời sống vật chất và tinh thần của người nông dân vẫn còn cần được tổ chức lại – không chỉ là miễn thuế – để cuộc hòa hợp dân tộc không diễn ra trong ánh mắt thèm thuồng của họ và con cháu họ. Toàn dân bất kể ai – trí thức cũng như kỹ thuật viên, trẻ cũng như già, nam cũng như nữ – vẫn đang cần một cuộc đốt lý lịch thực thụ, sao cho sự thăng tiến trong cuộc đời không lệ thuộc vào bất kỳ điều gì ngoài năng lực của chính mình. Và vẫn còn cần những vòng tay nhân ái xòe ra từ những cường quốc, nơi có đủ tiền để mà có thể thừa nhân ái, nơi hình như vẫn còn thiếu cái văn hóa nhân ái để tiền không bị vừa thiếu vừa thừa.
Hy vọng rằng những ảo tưởng năm nay của mình sẽ sớm bị cuộc sống thực bác bỏ, và sẽ được thấy người Việt Nam sẽ dựng một quảng trường hòa giải hòa hợp đẹp hơn quảng trường Concorde bên Paris.
Ít ra đây cũng là một di chúc.
Hà Nội 22-4-2010
|
|
 |
| |
laqtri Administrator
Đăng bài: 547 Xây dựng: 552
Giới tính:  Online: No |
Thời gian: 01/05/2010 23:38 Re: ĐỪNG THÊM NHỮNG THÁNG TƯ | #post2413 | Tôi không biết anh Quỳnh và Quynh Trang dựa vào đâu để nói là topic này chịu cảnh đìu hiu? Cho đến lúc này sau 3 ngày nghĩ mà lượng truy cập là 93 thì có lẻ cũng chứng được điều ngược lại. Có điều việc viết comment để thảo luận với vấn đề này quả là không đơn giản? Viết làm sao để không ảnh hưởng đến vấn đề nhạy cảm? Viết sao để có thể có được sự chia sẻ của mọi người? Viết làm sao để không ngã về chính trị mà chỉ là vấn đề dân tộc như những bài viết anh Quỳnh sưu tầm?
Biết được điều đó thì Tôi nghĩ anh Quỳnh cũng sẽ không đến nỗi buồn và quê lắm đâu quynhtrang.
Mỗi người đều có một suy nghĩ, có một mối quan tâm riêng. Có người thích nhìn về quá khứ, có người thích hiện tại, nhưng cũng có người chỉ muốn nói về tương lai. Có người luôn nghĩ về tình cảm dành cho những người bộ đội đã ngã xuống trong chiến tranh, có người luôn nghĩ đến những người lính phía bên kia chiến tuyến đã ra đi vĩnh viễn. Cũng có người nghĩ cho cả 2 phía như anh Quỳnh. Dù thế nào thì cũng chỉ là cá nhân của mỗi người, đâu thể ép buộc người này có cái nhìn thế này, người nọ có cái nhìn thế kia được. Và điều quan trọng nhất là có những điều không bao giờ thay đổi được cho đến khi mà người ta tự muốn thay đổi.
Mấy ngày nay thực sự là thời điểm gay cấn nhất của Công ty Nam Tinh non trẻ của chúng tôi, khi phải đối đầu với 10 công ty nhà nước, tư nhân lớn và cả liên doanh để dành một hợp đồng độc quyền khai thác thị trường Việt Nam cho một đối tác có hơn 120 năm kinh nghiệm của Hoa Kỳ. Đến hôm nay, trên đường tiễn 2 ông phó tổng giám đốc người Mỹ ra về, nhìn ông thích thú với đô thị Sài Gòn và luôn miệng "Good" kể cả khi nhìn thấy những máy bay trưng bày trong Dinh Độc Lập và cờ hoa rực rỡ cả khu trung tâm quận 1 thì tôi nghĩ có lẻ chỉ nên hướng về phía trước, nhìn lại để hướng tới chứ không nên nhìn lại để rồi than thở, buồn đau... Chúng ta chắc thật sự cũng không cần phải suốt ngày trên lớp giảng cụ thể, rõ ràng mỗi trận chiến ta tiêu diệt bao nhiêu quân thù (Bởi thật sự rất nhiều trong số đó cũng là người Việt của chúng ta) mà nên chăng, hệ thống lại lịch sử một cách bài bản hơn, với những thông tin chính xác hơn từ thời khai thiên lập địa của dân tộc Việt, làm cho lịch sử cuốn hút hơn thay vì chỉ những con số vô hồn và vô nghĩa chỉ tạo thêm ngăn cách và hận thù và làm cho lớp trẻ Việt Nam tôn trọng sử Việt và dành sự quan tâm chứ không chỉ thuột lầu Lịch Sử Lân Bang mà quên mất cội nguồn dân tộc quên cả người ta đang xâm lấn đất nước của mình. "Kẻ dám liều có thể chẳng sống bao lâu nhưng người quá thận trọng thì sống không ra sống"
Richart Branson |
|
 |
| |
phamdangquynh Thành viên tích cực
Đăng bài: 98 Xây dựng: 98
Giới tính:  Online: No |
Thời gian: 03/05/2010 23:50 Re: ĐỪNG THÊM NHỮNG THÁNG TƯ | #post2417 | Xin cảm ơn những ý kiến của laqtri!
Tôi đã định khép lại topic này ở đây,vì ngày lễ đã qua,pháo hoa mừng chiến thắng và những khúc hát khải hoàn cũng đã kết thúc.
Trí đã viết không dài nhưng bài viết ấy đề cập đến nhiều điều thú vị.Thật sự đây là đề tài khá nhạy cảm. Thêm thắt cho nhiều kẻo không hay, lại còn sợ không được sự chia sẻ của mọi người.
Có người cho rằng người Việt nam sống vì quá khứ,người Mỹ sống vì hiện tại,người Nhật sống vì tương lai.
Nhắc lại một chút quá khứ,để hướng về tương lai,chứ không phải để buồn đau,than thở.Trí nói đúng lắm.Nhưng tôi nghĩ quá khứ nếu được khép lại thì tương lai mới thực sự mở ra.Những ý kiến mà tôi sưu tầm chỉ xoay quanh chủ đề làm sao để hàn gắn cái vết thương chiến tranh cho Mẹ Việt Nam.Nhà nước ta đã có nhiều cố gắng nhưng chưa thực hiện được nhiều.Chiến tranh đã kết thúc 35 năm,bằng thời gian đó, người Nhật đã là siêu cường,còn ta vấn đề hòa giải dân tộc vẫn chưa xong.Đừng nghĩ người Nhật thành công nhờ họ mau quên quá khứ!
Tôi cũng là dân kinh doanh nên rất ấn tượng và chúc mừng thành quả mới của công ty Nam Tinh.Điều tôi hơi phân vân là hàng chục doanh nghiệp nước nhà phải chịu thua ngay trên sân mình.Thị trường là vậy,thương trường là thế nhưng Trí ơi kinh tế thị trường của ta theo định hướng XHCN kia mà!Nói đến các công ty của Mỹ xin nhớ bài học để đời từ CocaCola.
Hai ông phó tổng giám đốc người Mỹ trên đường ra về nhìn đô thị Sài gòn luôn miệng “good” chưa chắc là tín hiệu mừng cho chúng ta đâu.Người Mỹ chỉ nghĩ đến cái lợi của họ trước tiên thôi.35 năm trước,với những chiến binh miền bắc,người Mỹ là kẻ thù;với những chiến binh miền nam bại trận,người Mỹ là kẻ phản bội….laqtri làm tôi nhớ đến một bài viết của một giáo sư người Mỹ cách đây không lâu.Xin được đưa lên đưới đây để anh em đọc và thấm thía hơn về cách mà người Mỹ suy nghĩ và lý luận.
Với một Việt Nam tự do kinh doanh,
ai đã thực sự chiến thắng trong cuộc chiến?
William Thompson
Ngày 1-3-2010
Ông Thompson, Giáo sư Quản trị Công, Đại học Nevada, Las Vegas, là tác giả của cuốn sách Legalized Gambling: A Reference Handbook (Santa Barbara and Denver: ABC-Clio, 1994 and 1997- xuất bản lần 2).
Vào dịp cuối năm, tôi đã đi thăm Việt Nam và tôi đã thay đổi suy nghĩ của mình. Giờ đây tôi kết luận rằng chúng ta đã thắng trong cuộc chiến Việt Nam. Có điều chúng ta đã không có mặt ở đó để ăn mừng chiến thắng.
Tôi đã ở Việt Nam trong chuyến thăm con trai tôi, một thầy giáo ở Trường Quốc tế Nam Sài Gòn (vâng! Sài Gòn). Tôi đã đi “xích lô” từ Bưu điện [TP] Hồ Chí Minh, đầy những người bán hàng rong, tới Chợ Bến Thành – từ một điểm nóng của chủ nghĩa tư bản tới nơi khác. Tôi đã đáp một chuyến xe lửa tới bãi biển Mũi Né, lưu lại tại một khu nghỉ mát cao cấp có phong cách phương Tây. Tôi đã đi bằng xe buýt qua những khu vực xe cộ lưu thông không thể tưởng tượng nổi để tới Công viên Quốc gia Cát Tiên. Tại đó, tôi đã hỏi anh hướng dẫn viên người Đức của mình (anh ta làm cho Deutschland, tổ chức của Đức tương tự như Peace Corps của chúng ta), nói cho tôi biết điều gì thật sự là “cộng sản” bên trong nước Việt Nam. Sau khi nghĩ ngợi, anh ta nói: “Ôi, tôi đoán chừng có lẽ một thứ duy nhất là cái công viên này, do chính phủ làm chủ. Tôi không thể nghĩ ra cái gì khác được.”
Tôi đã đi tới kết luận là anh ta đã đúng. Về thứ duy nhất là cộng sản mà tôi đã tìm thấy trên đất nước này là công viên quốc gia, cùng các công viên trong thành phố và một ít các viện bảo tàng.
Chiến tranh Mỹ – Việt Nam đã nổ ra với nhiều mục đích – mặc dù các mục đích này được giải thích không rõ ràng và mập mờ. Một lập luận cho cuộc chiến là “thuyết domino”. Đồng thời với chính sách ngăn chặn (như những gì đã được George F. Kennan giải thích năm 1947), thuyết domino đã giải thích rằng nếu như cộng sản có thể thắng ở một quốc gia, thì họ sẽ tìm cách xâm chiếm quốc gia không cộng sản tiếp theo ở kế bên, cho tới khi tất cả các nước sụp đổ như những quân bài domino. Toàn thế giới là mục tiêu của tư tưởng domino, như những gì được nói rõ trong bản tuyên ngôn của Marx và Engels. Nếu như miền nam Việt Nam sụp đổ vào tay những người cộng sản được Liên Xô và Trung Quốc giúp đỡ, thì chúng ta tin rằng Lào, Cambodia, Thái Lan, Miến Điện, Singapore, Malaysia, và Philippines cũng sẽ sụp đổ như vậy, tiếp đến là toàn thể châu Á – và sau đó là cả thế giới.
Tổng thống Lyndon B. Johnson đã tuyên bố trong một bài diễn văn đọc vào ngày 7 tháng 4 năm 1965 rằng: “Qua cuộc chiến tranh này … là thực tế khác: cái bóng đang ngày càng rõ nét hơn của Cộng sản Trung Quốc. Các nhà lãnh đạo Hà Nội bị thúc giục bởi Bắc Kinh. Đây là một chế độ đã tiêu diệt nền tự do ở Tây Tạng, đã tấn công Ấn Độ, và đã bị Liên hiệp Quốc lên án về hành động xâm lược Triều Tiên. Đó là một quốc gia đang trợ giúp cho các nhóm bạo lực trên khắp các lục địa. Cuộc chiến đấu ở Việt Nam là một phần của một kiểu mẫu rộng lớn hơn trong mục đích hiếu chiến đó”.
Cũng có những lý do về ý thức hệ để có mặt trong cuộc chiến này. Chúng ta muốn chứng tỏ tính khả thi của chủ nghĩa tư bản tự do kinh doanh trong cuộc chạy đua với quyền sở hữu nhà nước về kinh doanh.
Tổng thống Johnson đã tiếp tục bài diễn văn với hy vọng rằng thậm chí đối thủ của chúng ta có thể nhìn thấy sự sáng suốt của việc hợp tác với nhau để có nhiều hơn hoạt động thương mại. “Tôi có thể hy vọng rằng Tổng thư ký Liên hiệp quốc có thể sử dụng uy tín của mình … để đề xướng, càng sớm càng tốt, với các quốc gia trong khu vực, một kế hoạch hợp tác để gia tăng sự phát triển. Về phần chúng ta, tôi sẽ đề nghị Quốc hội cùng tham gia vào một hoạt động đầu tư trị giá một tỉ đô la trong nỗ lực này ngay từ khi nó còn đang trên đường thực hiện … Nhiệm vụ không gì hơn là tăng thêm hy vọng và sự tồn tại của hơn một trăm triệu dân chúng”.
Có một mục tiêu nhân đạo trong cuộc chiến này. Johnson đã nói về nỗi khiếp sợ và bạo lực ở miền Nam Việt Nam. “Đó là một cuộc chiến về sự tàn bạo chưa từng có. Những người nông dân bình dị là mục tiêu của ám sát và bắt cóc. Phụ nữ và trẻ em bị siết cổ nửa đêm vì những người đàn ông của họ trung thành với chính phủ của mình. Những ngôi làng bé nhỏ và không được bảo vệ đã bị tấn công lén lút. Những cuộc lùng ráp với quy mô lớn được chỉ đạo nhắm vào các thị trấn và những cuộc tấn công kinh hoàng vào trung tâm các thành phố.”
Dù mục tiêu của chúng ta là thế nào đi nữa thì chúng ta cũng đã từ bỏ những ý niệm cho rằng lực lượng của chúng ta đã lật đổ chế độ cộng sản đang tồn tại ở miền Bắc Việt Nam, mà là được sử dụng để bảo vệ sự tồn tại của thể chế tự do kinh doanh ở miền Nam Việt Nam. Chúng ta đã làm như thế với ý nghĩ rằng chúng ta đang bảo vệ cho “nước Nam Việt Nam độc lập”. “Chúng ta không muốn điều gì cho bản thân mình, mà chỉ duy nhất là người dân miền Nam Việt Nam được phép dẫn dắt đất nước của riêng họ đi theo con đường của riêng họ”. Không có lời báo trước nào được đưa ra cho một thực tế là chỉ có một quốc gia Việt Nam cho tới khi người Pháp ra đi vào năm 1954. Những nỗ lực của chúng ta ủng hộ một nước Việt Nam phân chia – không phải là quảng bá cho một quốc gia thống nhất, một quốc gia độc lập. Đã có hai nước Việt Nam chỉ trong một thập kỷ.
Năm 1973, Hoa kỳ tham gia vào cuộc đàm phán hòa bình với hứa hẹn rằng một chế độ Nam Việt Nam có thể được duy trì. Chúng ta đã thỏa thuận ngưng chiến và rút hết các đơn vị và lực lượng quân sự của chúng ta, và miền Bắc đã đồng ý rằng họ sẽ không xâm chiếm miền Nam. Những thực tế chính trị đã dẫn tới những kết quả khác nhau. Việc rút quân của chúng ta đi kèm với việc chấm dứt viện trợ quân sự của chúng ta do Quốc hội đưa ra. Bắc Việt Nam đã dần dần xâm chiếm miền Nam. Năm 1975, quân đội Bắc Việt Nam đã chiếm Sài Gòn.
Trong ba mươi lăm năm, tôi đã nghe được là chúng ta đã “thua” trong cuộc chiến tranh đó. Mặc dù vậy, những gì tôi đã trông thấy qua kỳ nghỉ mới đây đã đưa tôi tới việc phủ nhận cái kết luận đó. Cuộc chiến đó ta đã “thắng”. Vấn đề là chúng ta đã không ở đó đủ lâu để nhìn thấy chiến thắng. Trớ trêu là chiến thắng “của chúng ta” đã giành được, không phải do quân đội Mỹ, mà đúng hơn là bởi quân đội và người dân Việt Nam.
Lúc cộng sản mới giành quyền kiểm soát mà họ đã làm, như Washington từng lo ngại, là kết quả của sự mất tự do, nhà cửa, và cuộc sống – một hệ quả gần như là tất yếu của chiến tranh, khi Quân đội Bắc Việt Nam bỏ tù nhiều người miền Nam. Đó cũng là kết quả của sự áp đặt hệ tư tưởng cộng sản. Tài sản cá nhân đã bị tịch thu và những hoạt động kinh doanh tự do đã bị kìm chế bằng vũ lực.
Song những gì quan trọng hơn đã diễn ra. Việc rút quân khỏi Việt Nam của Hoa Kỳ đã đảm bảo cho sự sụp đổ của chinh phủ Cambodia vốn đã dễ tan vỡ, bị hạ bệ và thay thế bằng Khmer Đỏ của Pol Pot. Làn sóng bạo lực khủng khiếp mà chúng ta đã lo ngại sẽ tuôn vào miền Nam Việt Nam thì lại đã đến với Cambodia. Sự áp đặt thứ chủ nghĩa cộng sản nông dân của Pol Pot đã dẫn tới những cuộc di tản tại các thành phố của Cambodia, cưỡng bức lao động ở nông thôn, và giết người hàng loạt trên “những cánh đồng chết”. Hành động giết người được nhắm vào các đối thủ chính trị – như các nhà sư Phật giáo và các thương gia – và trên những thứ di sản của nước ngoài này, có cả người Trung Quốc và người Việt Nam. Hơn hai triệu người đã bị giết hại trong tội ác diệt chủng ở Cambodia.
Không có đơn vị quân đội nào của Mỹ còn ở lại Việt Nam, chúng ta gần như không có thái độ nào nhằm chấm dứt việc giết chóc đó. Hoa Kỳ đã làm được rất ít trong việc sử dụng sức ép ngoại giao để ngăn chặn Pol Pot. Thay vào đó, chính quyền Carter đã đưa ra sự trợ giúp đối với Pol Pot bằng việc ủng hộ sự công nhận của Liên hiệp quốc đối với chính quyền của ông ta.
Thế nhưng hành động giết người ở Cambodia đã đi đến kết thúc. Bằng cách nào? Khmer Đỏ đã chỉ đạo những cuộc đột kích biên giới vào Việt Nam, và Việt Nam đã phản công. Ngày 25 tháng 12 năm 1978, Việt Nam đã xâm chiếm Cambodia. Pol Pot đã bị hạ bệ, một chính phủ mới được hình thành, và hành động giết chóc đã được chấm dứt. Chính phủ cộng sản mới lên của một nước Việt Nam hợp nhất đã chấm dứt nạn diệt chủng.
Chính phủ bù nhìn mới ở Cambodia cũng là cộng sản, nhưng liệu điều này có nghĩa là những quân bài domino đang đổ hay không? Khó có thể nói. Trong khi theo đuổi những mục tiêu trong chính sách ngăn chặn của Kennan, những nỗ lực của chúng ta đã dựa trên cơ sở giả định rằng, việc trở thành những người cộng sản anh em sát cánh nhau, Trung Quốc và người Việt Nam sẽ ưa thích nhau. Không phải vậy đâu! Họ đã có cả một thiên niên kỷ thù hận và họ chỉ tạm thời giữ mối quan hệ do xung đột với người Mỹ (và trong cả những cuộc chiến tranh trước đó với người Pháp và người Nhật). Trung Quốc và Việt Nam từng là những kẻ thù truyền kiếp.
Khi Việt Nam đạt được việc thống nhất lãnh thổ, thì họ đã xua đuổi những người gốc Trung Hoa. Trung Quốc đã tỏ phản ứng bị xúc phạm. Tháng 2 năm 1979, Trung Quốc từ bỏ cuộc chơi con bài domino, đưa 120.000 quân sang Việt Nam. Việt Nam đã chống trả, chặn đứng người Trung Quốc trước khi họ có thể tiến tới Hà Nội, và phản công qua biên giới Trung Quốc. Trong vòng một tháng, Trung Quốc đã rút khỏi Việt Nam. Chỉ có duy nhất một thứ bị đánh bại là thuyết domino.
Khi những hành động giết chóc bị chặn đứng, và trò chơi domino chấm dứt, thì có một sự kết liễu đối với tư tưởng cộng sản. Sự áp đặt kinh tế học cộng sản đã dẫn tới những tình cảnh mà Hoa Kỳ đã tiên đoán: tình trạng thiếu sức sản xuất, thiếu hàng hóa, và thiếu ăn. Ở một đất nước mà nền nông nghiệp là chủ yếu nhưng đã phải nhập khẩu gạo từ Ấn Độ. Người Việt Nam là những con người vốn dĩ giàu nghị lực với khả năng vô bờ bến, đã được thấy qua sự quyết tâm của họ đứng lên chống lại người Mỹ, người Pháp, người Trung Quốc và người Cambodia. Nhưng giờ đây họ được lệnh đứng vào hàng ngũ và cúi đầu trước những sắc lệnh của các quan chức chính quyền cùng hệ tư tưởng. Năng lượng của họ đã bị bít chặt.
Những người lãnh đạo của họ không phải hoàn toàn không thấy được. Một câu chuyện phổ biến là có một vị tướng lãnh đạo đã bước lên bục phát biểu ở Đại hội toàn quốc lần thứ 6 năm 1986. Ông nói rằng ông kêu gọi người dân và quân lính của mình đổ mồ hôi, nước mắt, và cả máu để chiến đấu không phải để giành lấy “điều này!” Họ đã chiến đấu để có được một cuộc sống tốt đẹp hơn. Nhưng mọi sự càng trở nên tồi tệ hơn. Ông đã kêu gọi đảng “hãy để cho người dân được tự do dùng nội lực của mình sản xuất ra hàng hóa cho lợi ích của mình”.
Các nhà lãnh đạo đã không thể tranh cãi được với vị tướng này, và một thời kỳ gọi là “đổi mới” (sửa chữa lại, phục hồi, cải cách) đã được đề xướng trong đại hội đảng năm đó.
Hệ thống cai trị ở Việt Nam vẫn được lãnh đạo bởi Đảng Cộng sản Việt Nam, song những gì mà họ có, xét về mặt kinh tế, là những gì mà quân đội Mỹ đã chiến đấu để bảo vệ. Những hoạt động buôn bán, đầu tư vốn, sản xuất và phát triển xuất khẩu trên thị trường tự do là một phần của “đổi mới”. Nghèo đói đã được cắt giảm một nửa, thu nhập tăng gấp đôi, tăng trưởng kinh tế đã trở nên mạnh mẽ, và lương thực giờ đây đã có đủ để xuất khẩu. Dân chúng không còn đói. Những thay đổi trong cơ cấu kinh tế đã đưa đến việc Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh cấm vận vào năm 1994, và Việt Nam giờ đây là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO.
Sài Gòn vẫn là “Sài Gòn” đối với dân chúng, mặc dù chính quyền gọi nó là Thành phố Hồ Chí Minh. Ở phía nam thành phố, một công ty Đài Loan đã cải tạo hàng ngàn hecta đầm lầy và phát triển một khu ngoại ô lớn có tên là Phú Mỹ Hưng. Các trung tâm mua bán và các đường phố thương mại có những nhà hàng, khách sạn, những căn nhà và các căn hộ chung cư. Các căn nhà lân cận với Trường Quốc tế Nam Sài Gòn, do người Đài Loan sở hữu, nhưng theo cách giáo dục của Anh cho trẻ em từ Việt Nam và trẻ em đến từ 30 quốc gia khác.
Xung quanh góc khu vực này là Hiệu sách Phú Mỹ Hưng. Hầu hết sách trong đó bằng tiếng Việt, nhưng tôi đã đánh bạo nhìn quanh. Có những tờ báo và các cuốn tạp chí du lịch của Mỹ. Cũng có một cuốn sách tiếng Anh mà tôi đã mua được: “Viet Nam Vision 2020: The 10th National Congress of the Communist Party of Viet Nam.” Cuốn sách giải thích là đất nước đang được hưởng năm thứ hai mươi lăm liên tục tăng trưởng kinh tế, tỉ lệ tăng trưởng trung bình là 5,5% mỗi năm, đứng thứ hai trên thế giới, chỉ sau Trung Quốc. Sản lượng nông nghiệp đã tăng gấp đôi trong mười lăm năm qua. Việt Nam là nước thứ hai sau Brazil về xuất khẩu café, thứ tư về xuất khẩu cao su, và thứ tư về xuất gỗ và đồ gia dụng bằng gỗ. Có mười ba xưởng lắp ráp xe máy trong nước.
Các doanh nghiệp nhà nước đang được thay thế bởi các công ty tư nhân. “Con số toàn bộ các doanh nghiệp tư nhân đã tăng lên từ 132 năm 1991, thành 80.000 năm 2003, và 170.000 năm 2006.” Có 9,7 triệu “doanh nghiệp cá thể”, và một nửa các gia đình ở Việt Nam có liên quan tới việc sở hữu doanh nghiệp. Bảy mươi ba quốc gia đã đầu tư vào nước này.
Có sự quan ngại về tình trạng tham nhũng trong bộ máy công chức. Bản Báo cáo “Tầm nhìn” 2020 đã công khai chỉ trích nạn hối lộ và tham nhũng trong các quan chức của đảng, và chỉ ra rằng “đảng đã kỹ luật 40.000 đảng viên dưới các hình thức khiển trách, cảnh cáo, sa thải, khai trừ hoặc bỏ tù”.
Ý niệm về chiến thắng của các giá trị Mỹ được phản ánh trong những mục tiêu mà đảng này đã chỉ ra trong bản báo cáo:
Để giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất, đẩy mạnh mọi tiềm năng cũng như các nguồn nhân lực … Để tiến mạnh tới một nền kinh tế thị trường, tuân thủ những nguyên lý thị trường … Để động viên tất cả mọi người dân nâng cao mức thu nhập của mình qua những cách thức hợp pháp … Để làm nên những thay đổi quan trọng trong cải cách hành chính, và giảm bớt tác phong quan liêu, nạn tham nhũng, và lãng phí … Để thực hiện một hệ thống phân phối cơ bản theo kết quả công việc, hiệu quả kinh tế, mức độ đóng góp vốn và những nguồn khác … Để tạo nên một môi trường hợp pháp thuận lợi, các cơ chế và chính sách để thu hút tất cả các nguồn tài nguyên xã hội cho phát triển … Để quản lý có hiệu quả các hoạt động của những thị trường cơ bản cùng hàng ngũ với một hình mẫu cạnh tranh lành mạnh … Để phát triển vững vàng thị trường tài chính … Để phát triển thị trường nhà đất, trong đó có thị trường cho quyền sử dụng đất … Để cho đất đai là một nguồn vốn thực sự cho đầu tư … Để ngay lập tức thu hút vốn đầu tư … cho việc thực hiện các dự án quan trọng về việc khai thác dầu lửa và khí đốt.
Bản báo cáo đã đi xa hơn khi thúc giục rằng “phải có sự trợ giúp cho việc phát triển các doanh nghiệp, mà không có sự can thiệp vào quá trình sản xuất và kinh doanh của họ … Những cố gắng phải được thực hiện để đảm bảo rằng tất cả mọi công dân đều có quyền tự do đầu tư vào hoạt động kinh doanh của mình mà không có hạn chế trong mọi lĩnh vực …”
Sarah Palin (1) và Mike Huckabee (2) không cần những người Cộng hòa thuê ông Newt Gingrich (3) để viết thêm “một hợp đồng với nước Mỹ”. Những người Cộng hòa chỉ cần nhìn vào bản Báo cáo Tầm nhìn năm 2020 về kế hoạch Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2010. Cuộc chiến đã thắng!
Hiệu đính: Ngọc Mai
—
Ghi chú của người hiệu đính:
(1) Sarah Palin: cựu thống đốc tiểu bang Alaska và là ứng viên chức Phó Tổng thống cùng với John McCain là ứng cử cho chức tổng thống trong kỳ bầu cử vừa qua. Liên danh này đã thất bại. Hiện tại Sarah Palin đang làm cộng tác viên cho đài truyền hình Fox, đài có khuynh hướng ủng hộ đảng Cộng hòa.
(2) Mike Huckabee: cựu thống đốc tiểu bang Arkansas và là ứng viên đảng Cộng hòa tranh cử chức tổng thống vừa qua nhưng đã thua John McCain ở vòng đầu. Hiện tại Mike Huckabee đang cộng tác viên cho đài truyền hình Fox, phụ trách chương trình talk show Huckabee.
(3) Newt Gingrich: là cựu Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ (chức vụ này hiện do bà Nancy Pelosi, thuộc đảng Dân chủ nắm giữ). Newt Gingrich đã từng giúp Larry Hunter viết “Contract with America”, đưa ra các chi tiết về hành động mà đảng Cộng hòa hứa hẹn sẽ làm nếu đảng Cộng hòa giành quyền kiểm soát Hạ viện. Nhờ vậy mà đảng Cộng hòa chiếm đa số trong Hạ viện từ năm 1995, đến 2006 thì bị đảng Dân chủ giành quyền kiểm soát. Hiện nay, Newt Gingrich là nhà tư vấn và là phân tích gia về chính trị.
|
|
 |
| |
phamdangquynh Thành viên tích cực
Đăng bài: 98 Xây dựng: 98
Giới tính:  Online: No |
Thời gian: 04/05/2010 10:13 Re: ĐỪNG THÊM NHỮNG THÁNG TƯ | #post2418 | Cuối phần comment cua laqtri có đề cập đến vấn đề dạy và học lịch sử hiện nay.Đây là đề tài có quá nhiều chuyện để nói,nhưng tôi nghĩ mình chưa đủ tầm,hơn nữa khá "nhạy cảm".Thôi thì xin đưa lên đây một đoạn trong bài làm môn sử mà một HS nào đó đã viết.Phần này đã được đưa lên diễn đàn trường PTTH Việt đức,Hà nội.Chút quà mọn nhộn vui này xin gửi đến hết thảy anh em sau mấy ngày nghỉ (nhưng chắc mệt hơn đi làm):
Quân ta được ăn no, ngủ say sưa, thóc gạo rồi rào, chuẩn bị chết cũng đáng. Với tinh thần và nghị lực nung nấu không còn gì để nói ngoài chiến thắng, chiến thắng. Đúng vậy không hả các bạn? Tất cả nhân dân ai cũng mong rằng rồi một ngày, một ngày chinh chiến sẽ tàn. Đúng vậy, phải chăng đó chỉ là một câu hát chính trong một bài hát nào đó, nhưng ý nghĩa của nó thì vô cùng lớn nao và thúc đẩy toàn quân, toàn dân tiến lên phía trước giành thắng lợi.
Các bạn thử nghĩ mà xem một đất nước bị chia cắt làm đôi thì khác nào một miếng bánh bị cắt làm đôi, rất dễ ăn dễ nuốt. Tiến về Sài Gòn ta quét sạch giặc thù. Đúng vậy, tiến vào Sài Gòn đánh cho rắn rập đầu, đánh cho giặc “tan đàn xẻ nghé”.
… Đồng khởi, đồng có nghĩa là cùng, khởi có nghĩa là khởi nghĩa. Đồng khởi có nghĩa là toàn Đảng, toàn dân tham gia khởi nghĩ rành lại chính quền. Đồng khởi được tổ chức vào mùa xuân năm 1962 tại Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đại tướng Hồ Chí Minh.
Dưới sự lãnh đạo của Đại tướng Hồ Chí Minh ta đã tiêu diệt được hơn 4000 địch, thu 1500 khẩu AK, 280 khẩu đại bác, 8 tấn lương thực, 6 tạ thuốc men, bắt sống 1 đại tá, 8 trung tá, 15 hạ sĩ quan và làm bị thương rất nhiều tên khác. Tổng thiệt hại trong cuộc khởi nghĩa của quân địch lên tới 1 tỉ USD. Tổng thống Johnson lúc bấy giờ rất sốt ruột nhưng phải cắn răng chịu đựng.
Chiến tranh là, chiến tranh mà, biết làm sao được. Nhiều bà mẹ mất con, nhiều ông bố mất chồng. Nói chung là thiệt hại khôn xiết. Tình hình ô nhiễm môi trường thật là nan giải do thuốc súng và chất độc màu da cam có rất nhiều heroin làm cho mọi sinh vật bị nghiện heroin?!
(cô giáo dạy sử Vũ thị Oanh đưa lên diễn đàn) |
|
 |
| |
 |