Tôi "biết" về chú Quảng khi thằng con đầu lòng của chú còn tập tỏm theo tôi chơi trò đánh trận, bắn ná, tía vụ. Dáng người nhỏ thó, đôi mắt hiền từ nhân hậu với bước đi chậm rãi, chậm rãi như thể hiện tính tình hiền hòa của chú.
Nhà tôi bên cạnh nhà chú nên mỗi khi mấy đứa con của chú đánh nhau là tôi nghe rành rọt những câu la mắng mà ở xóm tôi thường nói "có một không hai".
- "Ôi chết đi bây ơi! Sao bây cứ nhau hoài vậy! Thôi đi con! thôi đi con!"
và cứ lâp lại như thế nên ba đứa con của chú có đưá nào chịu nghe lời ổng đâu. May ra còn có con bé Út học hành giỏi gian, biết nghe lời ba mẹ ông bà, cỏn hai đứa đầu thì....Một thằng thì khó nuôi, nó không chịu ăn cá, sợ mùi tanh nên cùng trang lứa nó mà người ta là thanh niên rồi mà nó còn nhút nhát như Chú Quảng vậy. Bời nó khó nuôi nên hồi nhỏ bà nội nó bán cặp gà lên tận đâu Long Sơn gặp ông thầy pháp xin cho lá bùa để nó đeo cho khỏi bệnh hoạn. Thằng cu đã gầy gò lại còn mang lá bùa to như cái giẻ lau bảng mà má tui khâu cho khi còn học mẫu giáo. Còn con bé giữa thì suốt ngày nó với ba nó chửi nhau, có khi đánh nhau. Tôi cũng làm bộ là người qua hỏi chuyện khuyên bảo thì cũng bị nó chửi cho một trận. Mà con nhỏ đúng vào loại "hỗn" không thuốc trị, nó chửi cả bà Ba Chi khi bà Ba la toán lên chửi khống về nhà nó là bà mất con gà mái dầu. bà Ba Chi già rồi, tuổi bằng bà nội nó mà nó vẫn chửi.
Bây giờ chúng nó cũng lớn hết rồi, đứa đầu lòng học trung cấp đi làm phụ ba mẹ ở Sài gòn, đứa thứ hai thì đi Sài gòn như đi chợ Đại An mỗi tháng ra vào vài lẩn làm cho mẹ nó phải mất cặp heo. Cái con dở hơi đó về nhà là đôi khi kiếm chuyện chửi Chú Quảng, nghĩ mà thương chú vì chú quá hiền.
Bởi chú quá hiền nên người trong xóm tôi bảo ổng khù khờ. Khờ đâu không biết chứ tui thì trước mắt thấy chú có tới 3 đứa con, đi Sài gòn bán bánh tráng mỗi lần về là mang cả đống đồ về nhà, tiền thuê xe ôm chở về chắc cũng gần bằng tài sản mang về vì toàn là nón cũ, quần áo cũ người ta cho... Đôi khi thấy chú khác người vì cách sống của chú, nói về khía cạnh "kỹ" thì khó có ai mà qua chú. Nói chung là cái gì sài được là cứ mang vào nhà mà cất vì cứ sợ người khác lấy mất, cái buồng nhỏ trong nhà của chú cũng bốc mùi vì ổng toàn chứa ba cái thứ gì không ai biết. Tiền bạc thì chú cất kỹ lắm, tiền rất nhiều nhưng toàn là những tờ bạc 500, 200 cũ kỹ được chú xếp thành xấp cất kỹ trong "kho".....
Khi tôi còn nhỏ, tôi biết cha của chú Quảng mà tôi thường gọi là ông Quảng già. Ông Quảng già chết cách đây cũng ngót hơn 20 năm rồi. Mộ ông ngay trước nhà gần những gò mã mà ngày xưa ông đã từng say xỉn ngủ ở đó. Ông Quảng già có hai người con, ngươi con đầu là chú Quảng, người con sau là con gái tên Nam nên hồi nhỏ tôi thường nói với ba mẹ là " Con đi Quảng Nam chơi" tức là qua nhà chú Quảng. Ông Quảng già hồi đó khỏe lắm, ở cái tuổi 80 mà ổng còn ra đồng gánh rạ cách xa cả cây số. Nói đến Ông Quảng già thì cả làng ai cũng biết bởi ông quá nổi tiếng với biệt danh "con Ngọc Hoàng", uống rượu thay cơm. Sáng dậy là đã thấy bóng dáng ông gật gù từ dưới quán đầu làng, trưa lại say, chiều thì xỉn, tôi thì chửi...
Mà ông say thì trời đất cũng say, ông muốn cho cả cái xóm nghèo cùng say, cùng nghe ông say, nghe ông chửi. Mỗi chiều đến khi bưng cái đèn đi mua 200 bạc dầu về thắp là nghe tiếng ông lãi nhải, ông chửi, ông say và khi ông ngủ khi nào cũng không biết. Ban đầu thì nhiều người lắng tai nghe, đến xem ông say rượu nhưng riết rồi kịch bản không có gì mới nên người trong xóm không cần quan tâm, chỉ có lũ trẽ trong làng mỗi khi đá bóng về lại xúm xít thấp thó nhìn ông Quảng say rượu. Ông say ông chửi, không phải ông chửi như anh Chí trong truyện của Nam Cao mà có lẻ ông chửi vì ông buồn, ông buồn vì ông nghèo. Có lẻ cái cuộc sống nghèo khổ của quê nhà, những ngưởi trong nhà cùng cày lưng nhưng để có đủ cái ăn thì phải mượn gạo xung quanh hàng xóm. Có lẽ ông chửi vì ông nghèo.
Mà ông nghèo thiệt, nhà ông chỉ là mái tranh vách đất siêu vẹo, ẩm thấp và bốc mùi hôi bởi cái chuồng heo bên hông nhà. bên trong chuồng hai con heo gầy guộc ngước nhìn thèm được ăn cám vì ăn rau lang hoài cũng ngán. Chủ nó cũng đói làm sao nó no được, có lẻ tài sản giá trị nhất trong nhà có lẻ là bộ lư hương đã mấy đời truyền lại mà giờ đây chú Quảng thường dủng để thờ cúng ông Quảng già.
Sau khi ông Quảng già chết chú Quảng lại đổ bệnh, ban đầu thì sốt cao bất tỉnh rồi dần dần bệnh nặng hơn. Bệnh viện tỉnh coi như hết thuốc chữa vì chú mắc loại bịnh gì mà chích, rồi uống bao nhiêu loại thuốc mà chẳng có hiệu quả. Vậy là ngay trong đêm, hai chiếc xe đạp thồ chở một người nằm trong cái võng đến nhà chú. Không ai xa lạ, chính là chú Quảng nằm trong cái võng ấy. Tiếng nỏ lại vang lên trong đêm khuya mỗi khi gia đình nào có chuyện, cái xóm nhỏ quê tôi trong đêm lại vang lên tiếng chó sủa, tiếng bàn tán, khóc lóc. Xa xa đầu ngõ từng đoàn người với ánh đèn dầu hiu hắt cũng tập trung đống đúc trước nhà chú. Tiếng chó sủa lại càng dữ dội, bà con trong xóm cũng tập trung càng đông hơn vì cứ tưởng chú Quảng chết rồi. Thằng con của chú bật tỉnh dậy vì ồn ào, nó lủi thủi vừa bước ra khỏi buồng vừa dụi mắt vì còn ngái ngủ. Nó không biết chuyện gì xảy ra với ba nó, nó chỉ biết chạy tìm đến bà nội sà vào lòng như tìm một hơi ấm và vô tư đánh giấc ngon lành.
Chú Quảng nằm bất tỉnh nằm trên chiếc giường tre siêu vẹo, cái mềnh vá dăm ba lỗ đắp qua người nhưng còn ló cái chân đen đúi của chú. Vợ chú khóc nức nỡ trong đêm, tôi đứng nhìn mà nước mắt cũng rưng rưng vì thương cho hoàn cảnh ấy. Vợ chú vừa khóc vừa nói với ba tôi:
- Anh Bảy ơi! Cứu anh Quảng với anh Bảy ơi! Em mong cho ảnh sống là được rồi cho dù ảnh có như Ông Hạng cũng được. (Ông Hạng hay Chú Hạng là một người con trong tộc họ nhà tôi, thời trai trẻ cao to, đẹp trai lại học giỏi. Ấy vậy mà một tai nạn trong chuyến lao động tình nguyện chú trở nên người bệnh thần kinh. Giờ chú cứ đi đây, đi đó, người ăn mặt bẩn thỉu miệng cứ lẩm bẩm như oán trách ông trời sao quá nhẫm tâm với chú. Thế nhưng chú rất hiền, không hại ai chỉ có điều đi gặp ai cũng xin tiền mua điếu thuốc, hút thuốc nhiều đến nỗi hai ngón tay cầm thuốc nó vàng hơn củ nghệ)
Tôi thấy ba tôi và mấy người trong xóm tụ tập lại một bên như bàn tán chuyện gì đại sự, tôi cũng lót đôi dép nhựa cạnh đó ngóng theo. Rồi sau đó, ba tôi cùng một người trong xóm chạy đi mượn chiếc xe Đăm chạy vụt ngay trong đêm. Nghe nói ba tôi đi với Ông Năm chạy vào tận Đức Phổ để rước thầy về. Ban đầu tôi cứ nghĩ là rước thầy cúng về cúng bái vì cả xóm bàn tán là chú Quảng bị bệnh do người ở dưới bắt và họ đồn rằng mấy ngôi mộ hoang bên bụi tre gần nhà chú rất linh, có người còn nói họ thấy cả ma ngay ngôi mộ đó, có hai mẹ con thường ngồi bắt chí trên ngọn tre gần nhà. Nghe nói vậy mà tôi nổi da gà. Nên mỗi khi đi về khuya ngang qua bụi tre nhà chú là tôi luôn mang theo mấy lá dâu để phòng trừ ma quỷ.
2h sáng, ánh đèn dầu le loét trong ngôi nhà làm cho những con gà bên chuồng bò không ngủ được, chúng nhảy xuống cạnh đám đông mổ mổ vài cái tìm những hạt thóc còn rơi rãi bên các chiếc nong bên hè để lót dạ. Bỗng chiếc xe máy ì ạch đỗ bịch trước sân, đèn xe sáng chói cả mắt tôi. Ba tôi và ông Năm đã về cùng với một ông thầy. Nhìn ông thầy mặc áo sơ mi nâu quần kaki màu trắng đâu có giống thầy cúng, vậy mà tôi cứ tưởng đi rước thầy cúng.
Chú Quảng đang nằm bất tỉnh trên giường, miệng nói không nên lời. Ông thầy tên Tam (biệt danh là ba Tam) cũng có nghĩa là 33 mà theo cách hiểu của tôi là cái tên này rất baba. Ông đến chỗ chú Quảng nằm, tay ấn ấn đâu trên tráng mấy cái rồi bảo ra sau nhà tìm cái chai thuốc sâu đập bể đi để lấy cái mãnh chai cho thầy.
Thế là ông Thầy bắt đầu lể, ông lật sấp chú Quảng lại và lể từ trên đầu xuống tận chân, mùi dầu nóng nghe thơm nồng lại kèm theo mùi máu tanh vì máu ra rất nhiều. Máu của người bịnh có khác, máu chú Quảng bầm đen thấy ớn.
Loay hoay 30 phút ông thầy đã lể xong và chú Quảng vẫn nằm bất động như thế. Cho đến sáng hôm sau, Chú Quảng bắt đầu cựa quậy, tay cử động, miệng cũng nói đôi ba câu đòi uống nước. Vậy là chú Quảng đã thoát khỏi cơn nguy kịch, vậy là chú Quảng không chết và mọi người trong xóm ai cũng rất mừng. Người mang mấy quả hột gà sang thăm, người vài lon sữa ông Thọ hay người thì dúi vào tay vợ chú mười ngàn đồng.
Nhưng cái bất ngờ là tại sao chú Quảng tưởng chừng như chết rồi vậy mà ông thầy đã lể cho hết bệnh mà còn khỏe mạnh, 2 ngày sau chú Quảng đã đi lại bình thường. Mọi người ai cũng trầm trộ khen ông thầy lể và từ đó ở c ái xóm nhỏ của tôi danh tiếng ông được ca tụng từ đầu làng cuối xóm. Và hễ mỗi khi nhà ai có người thân bị bệnh là cứ đi tìm thầy ba Tam.
Tôi thì còn quá nhỏ để hiểu mọi chuyện về ông thầy ba Tam nhưng trường hợp của chú Quảng ông bà ta thường gọi là “phước chủ may thầy”.
(Còn tiếp) |