Đăng nhập hoặc Đăng ký miễn phí!
Icon Trang chủ > Diễn Đàn > Câu lạc bộ giải trí > Bài viết ngoài lề > Chuyên đề pháp lý cần tư vấn!
Icon Thành Viên
Xin chào Khách
IP: 38.107.179.219

Tên bạn
Mật mã


Icon Trực Tuyến
US 38.107.x.x
US 38.107.x.x
US 38.107.x.x
Unknown 210.245.x.x
Unknown 27.72.x.x
US 38.107.x.x
US 38.107.x.x
US Google spider
Điều hành diễn đàn: buicamgiang_18 laqtri huuhien1269
RSSReply
Chuyên đề pháp lý cần tư vấn!
Tác giảBài viết
Thuc_lawyer
Thành viên tích cực

Đăng bài: 17
Xây dựng: 17

Giới tính: _MALE_
Online: No
Thời gian: 13/05/2011 04:37
Chuyên đề pháp lý cần tư vấn!
#post3647
Dear all!
Hiện nay, các Doanh nghiệp (công ty cổ phần) có chính sách "trả lương bằng cổ phiếu". Đây là một ý tưởng tốt tạo điều kiện cho cả người lao động và người sử dụng lao động nhằm giữ chân người lao động, tạo thu nhập từ cổ tức cho người lao động cũng như doanh nghiệp huy động được nguồn vốn trong sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, việc trả lương bằng cổ phiếu còn nhiều ý kiến trái ngược vì chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng.
Với chuyên đề "trả lương bằng cổ phiếu" mà Thục tôi muốn gửi đến quý vị nhằm đưa ra các ý kiến chuyên ngành từ một số nhà quản lý, các cá nhân, tổ chức liên quan đến chứng khoán cũng như trong lĩnh vực pháp lý, lao động tiền lương.
Xin mọi người cùng theo dõi chuyên đề. Chân thành cảm ơn và mong đón nhận phản hồi từ quý vị.



Trả lương bằng cổ phiếu - Cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng tại các doanh nghiệp

I. Tiền lương và bản chất của tiền lương
1. Khái niệm tiền lương
Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy Quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo hợp đồng lao động cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc những dịch vụ đã làm hoặc sẽ phải làm. Ở Việt nam, hiện nay có sự phân biệt các yếu tố trong tổng thu nhập của người lao động từ công việc: Tiền lương (dụng ý chỉ lương cơ bản), phụ cấp và phúc lợi. Theo quan điểm cải cách tiền lương năm 1993, tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành qua sự thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động phù hợp với quan hệ cung cầu về sức lao động trên thị trường quyết định và được trả cho năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Như vậy: tiền lương được hiểu là số tiền mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động của họ thanh toán lại tương ứng với số lượng và chất lương lao động mà họ đã tiêu hao trong quá trình tạo ra của cải trong xã hội.
2. Bản chất của tiền lương
Tiền lương ở nước ta đã được coi là giá cả sức lao động, coi sức lao động là hàng hoá là một bước tiến quan trọng trong nhận thức về tiền lương của Đảng và Nhà nước ta và cũng hoàn toàn phù hợp với đặc điểm của tình hình đất nước. Đất nước ta đang trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên CNXH, nền kinh tế còn tồn tại nhiều chế độ sở hữu đan xen lẫn nhau, do đó tiền công hay tiền lương còn tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau với bản chất khác nhau. Trong thành phần kinh tế tư bản tư nhân dựa trên chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất và bóc lột sức và bóc lột sức lao động làm thuê thì Trả lương bằng cổ phiếu - Cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng tại các doanh nghiệp
tiền công là giá cả sức lao động và quan hệ lao động ở đây là quan hệ chủ thợ. Trong thành phần kinh tế quốc doanh về mặt sở hữu tập thể mà Nhà nước là người đại diện đứng ra quản lý trong các doanh nghiệp quốc doanh thì quyền quản lý và sử dụng lao động giao cho Giám đốc, mặt khác người lao động được tự do hoàn toàn về thân thể (sự tự do này được pháp luật công nhận và bảo hộ). Vì vậy, đã có đủ điều kiện để coi sức lao động trong các doanh nghiệp quốc doanh cũng là hàng hoá, nghĩa là tiền lương và giá cả sức lao động. Tiền lương ở khu vực này Nhà nước tác động thông qua hệ thống thang bảng lương. Các doanh nghiệp quốc doanh đại diện cho Nhà nước là người sử dụng lao động tiến hành bố trí lao động cho phù hợp với khả năng và yêu cầu của người lao động trên cơ sở đó phân phối kết quả sản xuất. Việc trả lương không chỉ căn cứ vào hợp đồng lao động mà còn căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh.
II. Quy định của pháp luật về tiền lƣơng
1. Quy định về mức lƣơng tối thiểu
Theo quy định tại Nghị định 108/2010/NĐ-CP ngày 29/10/2010 quy định về mức lương tối thiểu vùng để trả cho người lao động có hiệu lực từ ngày 01/01/2011 thì đối với các doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp (trừ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FBI) trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh được quy định như sau:
- Đối với doanh nghiệp đóng trên địa bàn các quận: 1.350.000 đồng/tháng
- Đối với doanh nghiệp đóng trên địa bàn các huyện: 1.200.000 đồng/tháng
Quy định về mức lương tối thiểu như trên được sử dụng làm cơ sở để tính các mức lương trong thang lương, bảng lương, các loại phụ cấp lương, tính các mức lương ghi trong hợp đồng lao động và thực hiện các chế độ khác do Trả lương bằng cổ phiếu - Cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng tại các doanh nghiệp
doanh nghiệp xây dựng và ban hành theo thẩm quyền do pháp luật lao động quy định như: đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiền lương khi làm thêm giờ, làm đêm, ngừng việc, nghỉ hàng năm v.v.v
Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp xây dựng mức lương tối thiểu cao hơn mức lương tối thiểu vùng theo quy định như trên.
2. Quy định về hình thức trả lƣơng
Theo quy định tại Điều 58 Bộ Luật lao động thì Người sử dụng lao động có quyền chọn hình thức trả lương theo thời gian (giờ, ngày, tuần, tháng), theo sản phẩm, theo khoán nhưng phải duy trì hình thức trả lương đã chọn trong một thời gian nhất định và phải thông báo cho người lao động biết. - Người lao động hưởng lương giờ, ngày, tuần làm việc ấy hoặc được trả gộp do hai bên thỏa thuận, nhưng ít nhất 15 ngày phải được trả gộp một lần.
- Người lao động hưởng lương tháng được trả lương cả tháng một lần hoặc nửa tháng một lần.
- Người lao động hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán, được trả lương theo thỏa thuận của hai bên, nếu công việc phải làm trong nhiều tháng thì hàng tháng được tạm ứng lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng.
3. Quy định về trả lƣơng bằng tiền, ngân phiếu, Séc
Tại Điều 59 khoản 2 – Bộ Luật Lao Động, có quy định:
" Lương được trả bằng tiền mặt. Việc trả lương một phần bằng séc hoặc ngân phiếu do Nhà nước phát hành, do hai bên thỏa thuận với điều kiện không gây thiệt hại, phiền hà cho người lao động".
Vậy tiền mặt là gì?
Trong kinh tế học có một số khái niệm về tiền như sau:
- Tiền mặt: là tiền dưới dạng tiền giấy và tiền kim loại.
Trả lương bằng cổ phiếu - Cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng tại các doanh nghiệp
- Tiền gửi: là tiền mà các doanh nghiệp và cá nhân gửi vào ngân hàng thương mại nhằm mục đích phục vụ các thanh toán không dùng tiền mặt. Chúng có thể dễ dàng chuyển thành tiền mặt.
- Chuẩn tệ: là những tài sản có thể dễ dàng chuyển thành tiền, chẳng hạn như cổ phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu, hối phiếu, tiền tiết kiệm, ngoại tệ.
III. Trả lƣơng bằng cổ phiếu, cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng
1. Khái niệm cổ phiếu
Để hiểu khái niệm về cổ phiếu chúng ta cần nghiên cứu thế nào là cổ phần. Cổ phần là gì? Hiểu nom na đó là phần vốn góp của cá nhân, tổ chức tại công ty cổ phần. Người sở hữu cổ phần gọi là cổ đông.
Để chứng minh một tổ chức, cá nhân đã sở hữu cổ phần đó, công ty mới cấp cho cá nhân đó một chứng chỉ hoặc ghi bút toán ghi sổ sách xác nhận quyền sở hữu chúng ta gọi đó là cổ phiếu. Cổ phiếu chỉ có ở công ty cổ phần.
Nói tóm lại: Cổ phiếu là giấy chứng nhận sở hữu cổ phần.
Theo quy định tại Điều 85 Luật doanh nghiệp thì:
"Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó. Cổ phiếu có thể ghi tên hoặc không ghi tên.
2. Trả lƣơng bằng cổ phiếu và thực tiễn áp dụng
Hiện nay, pháp luật lao động, chứng khoán cũng như pháp luật liên quan không có quy định về hình thức trả lương bằng cổ phiếu mà chỉ có quy định về trả thưởng bằng cổ phiếu, phát hành cổ phiếu thưởng, trả cổ tức bằng cổ phiếu.
Tuy nhiên, thực tế đã có doanh nghiệp thực hiện trả lương bằng cổ phiếu đó là Công ty cổ phần Hợp Nhất (HNC), một công ty chuyên hoạt động trong lĩnh vực chuyển phát nhanh đã tiến hành Họp đại hội đồng cổ đông vào năm 2007 thông qua việc trả lương hàng tháng cho nhân viên bằng cổ phiếu. Trả lương bằng cổ phiếu - Cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng tại các doanh nghiệp
(http://vietbao.vn/Kinh-te/Cong-ty-da...u/75167019/91/)
Việc công ty HNC trả lương bằng cổ phiếu có đúng hay không chúng ta chưa bàn đến, nhưng thực tế hiện nay có bao nhiêu doanh nghiệp trả lương theo hình thức này? Có thống kê nào hay không? Chắc chắn là trả lương theo hình thức này không phải là giải pháp tối ưu và người lao động (kể cả các doanh nghiệp) cũng không mặn mà cho lắm.
Tại sao như vậy? Bởi cơ sở pháp lý để thực hiện chi trả lương bằng cổ phiếu là không có, các vướng mắc liên quan đến các hoạt động khác như thuế, bảo hiểm ….
Chúng ta sẽ nghiên cứu cụ thể trong mục IV.
IV. TRẢ LƢƠNG BẰNG CỔ PHIẾU ĐÚNG HAY SAI.
1. Áp dụng pháp luật chứng khoán hay luật lao động.
Như đã trình bày ở trên, khái niệm trả lương bằng cổ phiếu là khái niệm khá mới mẽ và không tồn tại trong các văn bản pháp luật của Việt Nam. Hiện nay, chỉ có khái niệm trả cổ tức bằng cổ phiếu, trả thưởng bằng cổ phiếu, phát hành cổ phiếu thưởng theo quy định của Luật chứng khoán, Thuế thu nhập cá nhân và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Pháp luật chứng khoán không có quy định về trả lương bằng cổ phiếu. Trong khi đó Bộ luật lao động lại có quy định về hình thức trả lương, xin nhắc lại:
" Lương được trả bằng tiền mặt. Việc trả lương một phần bằng séc hoặc ngân phiếu do Nhà nước phát hành, do hai bên thỏa thuận với điều kiện không gây thiệt hại, phiền hà cho người lao động"
Theo đó, được hiểu là khi người lao động làm việc có ký hợp đồng lao động thì hàng tháng người sử dụng lao động phải trả một khoản tiền lương theo hợp đồng bằng tiền mặt. Tức là chỉ là tiền mà không phải là những tài sản Trả lương bằng cổ phiếu - Cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng tại các doanh nghiệp
khác như: vàng, giấy tờ có giá bằng tiền, vật phẩm làm ra từ sức lao động v.v.v.
Nếu trong hợp đồng có thỏa thuận việc trả lương không bằng tiền mặt như: Sec, ngân phiếu do Nhà nước phát hành thì thực hiện việc thanh toán theo thỏa thuận tuy nhiêm đảm bảo không gây thiệt hại, phiền hà cho người lao động.
Như vậy, việc trả lương bằng cổ phiếu là trái với Điều 59 của Bộ luật lao động.
2. Các vƣớng mắc khi trả lƣơng bằng cổ phiếu
2.1 Vi phạm hình thức của hợp đồng lao động
Giả sử việc trả lương hàng tháng bằng cổ phiếu thì trong hợp đồng lao động phải có thỏa thuận về việc nhận lương hàng tháng bằng cổ phiếu. Nếu thỏa thuận nhận tiền lương hàng tháng bằng cổ phiếu thì đi ngược lại với Điều 59 BLLĐ quy định về trả lương phải bằng tiền mặt, đồng thời sẽ gây ra các vướng mắc theo các nội dung dưới đây.
2.2 Xác định thu nhập chịu thuế nhƣ thế nào?
Tại Điều 30 Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân quy định trách nhiệm khấu trừ, khai thuế của người sử dụng lao động khi trả thu nhập từ tiền lương, tiền công cho cá nhân;
"Người sử dụng lao động có trách nhiệm khấu trừ thuế phải nộp vào tiền lương, tiền công phải trả cho người lao động, thực hiện việc khai thuế và nộp số thuế đã khấu trừ vào ngân sách nhà nước…"
Như vậy, nếu thực hiện chi trả lương bằng cổ phiếu thì Thuế TNCN phải khấu trừ như thế nào? Cơ sở nào để xác định thu nhập chịu thuế? Văn bản pháp luật nào quy định về việc khấu trừ thuế? Trả lương bằng cổ phiếu - Cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng tại các doanh nghiệp
Tóm lại là chưa có quy định nào về việc xác nhận thu nhập chịu thuế đối với hình thức trả lương bằng cổ phiếu mà chỉ có quy định đối với thu nhập chịu thuế trong trường hợp người lao động được thưởng bằng cổ phiếu. " Việc thưởng bằng cổ phiếu có thể thông qua thưởng hàng tháng, hàng quý, năm, đột xuất, thưởng lương tháng 13" (Tiết 2.1.6, mục II, Phần A thông tư 84/2008/TT-BTC)
2.3 Xác định mức đóng BHXH, BHYT, BHTN…
Theo quy định tại của pháp luật về BHYT, BHTN, BHXH thì kể từ ngày 01/01/2010 hàng tháng người sử dụng lao động và người lao động phải đóng các loại bảo hiểm được trích từ lương cơ bản theo hợp đồng lao động bằng 28,5%. Cụ thể:
- BHXH 22% (người sử dụng lao động đóng 16% (tăng 1%), người lao động đóng 6% (tăng 1%). - BHYT 4,5% (người sử dụng lao động đóng 3% (tăng 1%), người lao động đóng 1.5% (tăng 0,5%). - BHTN 2% (người sử dụng lao động đóng 1%, người lao động đóng 1%).
Như vậy người lao động đóng tổng cộng 8,5% người sử dụng lao động đóng 20%. Điều quan trọng là việc xác định giá trị để đóng các loại bảo hiểm này như thế nào nếu lương trả hàng hàng không phải bằng tiền mặt mà là cổ phiếu? Không có văn bản pháp lý nào quy định về vấn đề này, Thông tư 84/2008 chỉ quy định " trường hợp người lao động được thưởng bằng cổ phiếu thì giá trị thưởng được xác định theo mức thưởng ghi trên sổ sách kế toán của đơn vị trả lương"
Nếu không có quy định thì việc trích đóng BHXH, BHYT, BHTN thực hiện như thế nào? Nếu không thực hiện thì người sử dụng lao động sẽ bị xử lý vi phạm theo quy định tại nghị định số 47/2010/NĐ-CP. Chưa tính đến nếu Trả lương bằng cổ phiếu - Cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng tại các doanh nghiệp
người lao động tham gia tổ chức công đoàn thì trích nộp lệ phí công đoàn trên 1% mức lương cơ bản theo Hợp đồng thì sẽ không có cơ sở để nộp phí hàng tháng.
V. Kết luận
Trên đây là nội dung ý kiến liên quan đến các quy định về lương, trả lương bằng cổ phiếu. Trong thời gian hạn hẹp chắc chắn sẽ còn nhiều nội dung cần bổ sung, điều chỉnh, góp ý từ quý vị để đưa ra bàn thảo đảm bảo rằng khi áp dụng các quy định của pháp luật vào thực tiễn sẽ hoàn chỉnh hơn và tránh các rủi ro xảy ra khi pháp lý còn thiếu cơ sở.
Nội dung chuyên đề có sưu tầm một số website liên quan.
Chân thành cảm ơn và mong đón nhận ý kiến từ phía quý anh chị. Sau khi tổng hợp các ý kiến từ quý anh chị chúng ta sẽ lập một chuyên đề khác để đưa ra các phương pháp, giải pháp tối ưu đảm bảo khi áp dụng sẽ mang lại hiệu quả cao nhất.
Nguyễn Hữu Thục
04/5/2011
Delete Edit Quote
 
Reply

NghiaTrung.Com xin giữ bản quyền các thông tin đăng trên website. Chúng tôi không chịu trách nhiệm những trang link ra ngoài.