Đăng nhập hoặc Đăng ký miễn phí!
Icon Trang chủ > Diễn Đàn > Tổng Hợp > Gặp gỡ, trao đổi > Bừng tỏ và hãy đi tới
Icon Thành Viên
Xin chào Khách
IP: 38.107.179.218

Tên bạn
Mật mã


Icon Trực Tuyến
US 38.107.x.x
US 38.107.x.x
US 38.107.x.x
US 38.107.x.x
US 38.107.x.x
US Google spider
Điều hành diễn đàn: laqtri TungNV huuhien1269 trcganh_lachau
RSSReply
Bừng tỏ và hãy đi tới
Tác giảBài viết
phatphap
Thành viên tích cực

Đăng bài: 30
Xây dựng: 30

Giới tính: _NEUTRAL_
Online: No
Thời gian: 14/09/2011 03:32
Bừng tỏ và hãy đi tới
#post3872
Đại Biểu Quốc Hội, Phó Chủ Tịch Thường Trực Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, Tiến sĩ Khoa học, Hòa Thượng THÍCH CHƠN THIỆN luận về chữ Ngộ, cho rằng: Ngộ là bừng tỏ trong tâm. NGỘ là THẤY sự thật. Giác ngộ, bừng tỏ và hãy đi tới. Đi là đến chứ đừng chờ nơi đến. Có lý tưởng cộng sản là sống, là không phải chờ nơi đến. Phải xây dựng hạnh phúc cho mình và cho người - là lý tưởng sống thực sự, lý tưởng cách mạng sống thực sự. Chừng nào con người muốn hạnh phúc thì cuộc cách mạng vẫn tiếp tục.
Image


- Trong triết lý Phật giáo, dường như Ngộ là một phạm trù lớn, phạm trù mang tính khởi thủy, thưa Hòa thượng?

Chữ Ngộ, ngôn ngữ đủ của Phật giáo là giác ngộ. Giác ngộ của Đức Phật là hoàn toàn và triệt để. Từ “giác ngộ” ở đời, khác với “giác ngộ” ở đạo Phật. Dùng từ giác ngộ ở đời thì cấp độ khác, thấp hơn. Với Đức Phật, cấp độ giác ngộ là toàn triệt, trí tuệ toàn giác, tỏa sáng, bừng sáng, bừng tỏ.

Với những người tu thiền, có thể gặp những bế tắc trong giáo lý, trong cuộc sống, họ thao thức để tìm lời giải đáp, đến một thời điểm nào đó, vấn đề bừng sáng, sáng tỏ - cũng là ngộ.

Ngộ - có những cấp độ khác nhau.

Đúng là giác ngộ toàn triệt của Đức Phật là khởi thủy. Vì sau khi Ngài giác ngộ thì Đạo Phật phát sinh. Tại thời điểm ngộ, Đức Phật thấy được sự thật của con người và sự thật của thế giới; Ngài mở ra con đường, thấy rõ con đường để giới thiệu cho người ta đi. Có Ngộ - thì mới đi đến lý thuyết để hành động. Có Ngộ - thì mới có thể đánh thức tâm thức, thì nguồn sáng trong tâm mới giao lưu trực diện và trực nhận nguồn sáng bên ngoài để thấy thẳng sự vật; cũng có khi thấy thẳng được sự vật, ngoài logic. Ngộ - chính là bừng tỏ trong tâm. Ngộ là trực giác. Chính vì vậy, nếu lập luận để đi đến kết quả - thì không phải là ngộ.

- Có một khái niệm thường được dùng: giác ngộ cách mạng. Giác ngộ cách mạng có thể hiểu theo cách giải thích ở trên: trực diện và bừng tỉnh hay không, thưa Hòa thượng?

Phải tự nhận biết. Nhận biết đúng đích, điểm đến của cách mạng. Cách mạng là dòng biện chứng trong thế giới tương quan. Vì thế, về lý thuyết, cách mạng không có điểm đầu tiên nên không có đấng sáng thế. Lý thuyết của cách mạng không có đấng sáng thế là đúng. Không có điểm khởi đầu nên không có kết thúc và cũng không chấm dứt.

Trong trường hợp nhất định, cũng có thể hiểu: khi một người giác ngộ cách mạng nhưng vẫn có thể chưa thấy rõ con đường cách mạng. Đi theo cách mạng, làm cách mạng để rồi bừng tỉnh về lý thuyết của cách mạng. Lý thuyết đó chính là con đường để cứu con người thực sự, cứu dân tộc thực sự, giải phóng dân tộc và giải phóng con người ra khỏi nô lệ và khổ đau. Đó là lý tưởng cao thượng. Khi bừng ngộ ra lý thuyết cách mạng, bừng ngộ ra con đường giải phóng cá nhân và tập thể, người làm cách mạng dấn thân chứ không phải đi theo một cách mù mờ. Lúc đó là giác ngộ cách mạng.

- Thưa Hòa thượng, thế thì giác ngộ của Phật giáo và giác ngộ cách mạng, ắt có điểm tương đồng và dị biệt?

NGỘ - đều là THẤY sự thật cả. Ngộ là trực giác. Trực giác tâm lý khác với trực giác khoa học. Đức Phật trực nhận sự vật bằng tâm lý, tâm thức. Giác ngộ sự thật, biết được sự vật, Ngài mới nói rằng: trong bát nước có nhiều vạn chúng sinh; thế giới của Đức thích Ca là tam thiên đại thiên thế giới (một tỷ thái dương hệ). Từ trực giác đó Ngài mở ra con đường cho cuộc cách mạng để giải quyết khổ đau. Cuộc cách mạng của Đức Phật là cách mạng nội tâm, cách mạng về tâm lý, trừ tham sân si, tận trừ gốc của khổ đau.

Về ngữ nghĩa, chữ ngộ là giống nhau, đều là ngộ sự thật. Cách mạng cũng trực ngộ, nhận ra sự khổ đau của con người. Khổ đau vì nô lệ, bất công áp bức nên phải giải quyết khổ đau bằng cuộc cách mạng xã hội. Đi vô cách mạng xã hội là để trừ khổ đau, để đi đến độc lập - tự do - hạnh phúc.

Hai chữ ngộ, hai cuộc cách mạng – khác nhau là ở chỗ đó.

- Thế còn điểm tương đồng giữa hai chữ ngộ, hai cuộc cách mạng, thưa Hòa thượng?

Từ một chữ ngộ, các bậc chân tu làm thị giả chúng sinh, còn cán bộ cách mạng làm đầy tớ của nhân dân. Nhưng hai cuộc cách mạng khác nhau: một cuộc cách mạng nội tâm và một cuộc cách mạng xã hội. Những tư tưởng lớn gặp nhau nhưng hai con đường khác nhau, phạm trù chọn lựa khác nhau. Ở phạm trù cách mạng, từ ngộ - cách mạng tìm ra con đường, giải phóng con người, giải phóng dân tộc ra khỏi xiềng xích nô lệ, ra khỏi khổ đau đói kém, ra khỏi giặc dốt, ra khỏi chủ nghĩa cá nhân, đuổi tham nhũng tiêu cực... Đó là lý tưởng rất trí tuệ.

Giải thoát và giải phóng. Khác nhau ở cái gốc. Gốc của khổ trong Đạo Phật là do tham sân si, nên phải giải quyết triệt để tham sân si, để giải thoát cho con người, để vô ngã. Còn ở cách mạng, gốc của khổ là bị nô lệ và bất bình đẳng giai cấp, nên phải giải phóng con người ra khỏi khổ đau ấy.

Thành thử, điểm giống nhau ở chỗ: trên cơ sở của cái Thấy, thì mới có thể quên mình vì tập thể được và ở đó mới hạnh phúc tối đa. Cán bộ cách mạng tự thấy hạnh phúc trong vị trí của mình, thấy hạnh phúc trong phục vụ, hạnh phúc được làm người cán bộ cách mạng. Người tu sỹ phục vụ chúng sinh mà nói hy sinh là sai. Họ hạnh phúc chứ không phải hy sinh. Trong trường hợp này, dùng từ hy sinh là phá sản; hy sinh là từ dùng sai. Không phải hy sinh mà họ tìm nguồn hạnh phúc lớn hơn. Một phút không hạnh phúc là chơi vơi. Cuộc đời trăm năm chỉ ăn ngủ là cuộc đời zero.

- Vâng, giác ngộ - lý luận – hành động và hạnh phúc, có phải là những mệnh đề liên hoàn và có thể gắn bó với nhau?

Giác ngộ, bừng tỏ và hãy đi tới. Có con đường và hãy cứ đi. Và đi là đến chứ không cần chờ nơi đến. Ai đó nghĩ rằng chưa thấy cộng sản, phải chờ cộng sản? Không! đây là cộng sản rồi. Có lý tưởng cộng sản là sống, là không phải chờ nơi đến (tất nhiên là tương đối). Có thể người nào giác ngộ thì thấy lý tưởng cộng sản; có thể người chưa giác ngộ thì không thấy. Đối với đạo Phật cũng vậy, con đường giải thoát cứ trôi chảy, ai đó nghĩ rằng chưa thấy cảnh giới niết bàn – là không phải. Đây là cảnh giới niết bàn rồi. Phải xây dựng hạnh phúc cho mình và cho người. Đó là lý tưởng sống thực sự, lý tưởng cách mạng sống thực sự. Chừng nào con người muốn hạnh phúc thì các cuộc cách mạng vẫn tiếp tục. Tiếp tục ở các cấp độ khác nhau, không dừng lại.

Nhưng lật lại vấn đề, ở một góc độ khác, nếu nói thế giới đi đến niết bàn, thế giới đi đến cộng sản khiến con người hạnh phúc, không khổ đau nữa – là phiến diện. Bởi hạnh phúc không phải đến một lần rồi có mãi. Hạnh phúc rồi, có khi lại đối mặt với khổ đau – vô thường. Phải luôn luôn tiếp xúc với lý tưởng, để đi theo lý tưởng đó, để tránh khổ đau. Cuộc đời trôi chảy, thế giới không đứng yên.

- Cuộc sống không đứng yên, thế giới không đứng yên… Và châm ngôn “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” đi kèm với quốc hiệu kể từ ngày 2.9.1945 là điểm đến đích thực của cuộc cách mạng xã hội. Cuộc cách mạng này không dừng lại, thưa Hòa thượng?

Châm ngôn của cách mạng Việt Nam - Độc lập, Tự do, Hạnh phúc. Đây là nội hàm tỏa sáng nhất của các thể chế chính trị xưa nay có thể có. Trong đó, hạnh phúc là vấn đề lớn. Hiểu rõ sự thật lịch sử - cũng là ngộ. 66 năm qua, cách mạng luôn đối mặt với những vấn đề mới; cũng phải đối mặt và không được quên xu hướng muôn thủa (trong đó có xu hướng xâm lược và bành trướng). Động cơ của các hành động chính trị khu vực và quốc tế bao giờ cũng có yếu tố vị lợi. Vì vậy, phải luôn nắm vững xu hướng thời đại - đấy cũng là ngộ. Nắm vững để ứng phó với các tình huống mới, ứng phó với mọi trào lưu tư tưởng và văn hóa, chủ động để tránh khủng hoảng. Không những mình phải tồn tại mà phải mạnh; không thể trông chờ, phải tự lập, tự cường, tự chủ. Xu hướng thời đại thấy rất rõ. Thời hội nhập, phải mở. Mở mà vẫn độc lập, đó là hướng đi.

- Thưa Hòa thượng, có lẽ vì thế mà độc lập luôn là vấn đề thời sự, ngay cả trong thời điểm hiện tại, có phải không ạ?

Độc lập – nói khi nào cũng hợp cả, khi nào cũng cần nói và ngay cả bây giờ cũng vậy.

Nguyên lý không thay đổi, dòng biện chứng không thay đổi, nhưng ở từng thời điểm thì sự nhận biết có khác nhau. Lúc này đây, lý thuyết của Mác vẫn trúng. Tư tưởng Hồ Chủ tịch là đúng. Đừng nghi ngờ tư duy nguyên lý. Ngộ, giác ngộ - không thay đổi. Diễn biến – có thể thay đổi. Thấy rõ con đường, đường đó là lẽ sống thì biến thành lý tưởng và tôn thờ - như tôn giáo vậy.

- Đưa lý tưởng cách mạng như lý tưởng của tôn giáo, có thể hiểu cặn kẽ điều này như thế nào, thưa Hòa thượng?

Tin mà không thấy chi cả mới là lòng tin mù quáng. Do giác ngộ cách mạng mà có lòng tin. Lòng tin là do Thấy - mới là lòng tin trong sáng. Những người đi trước đi qua, thậm chí có người đi trước đổ thì có người sau tiếp tục. Nói rằng trung thành với Hồ Chủ tịch - không hoàn toàn đúng; mà là trung thành với con đường của Hồ Chủ tịch. Nhà cách mạng chân chính đi theo con đường của Hồ Chủ tịch chứ không chỉ đi theo Hồ Chủ tịch. Bởi, Người mở con đường lịch sử đúng và con đường Người đi đúng. Tin là tin con đường đó chứ không phải chỉ là tin con người. Với Đạo Phật cũng vậy, người ta tin vì con đường của Đức Phật đi còn đúng. Tin là vậy. Người cán bộ chân chính là vậy.

- Đến QH Khóa XIII đã là 3 nhiệm kỳ Hòa thượng tham gia QH. Thưa, Hòa thượng có ngộ ra điều gì từ việc tham gia hoạt động ở cơ quan quyền lực Nhà nước tối cao không ạ?

Tất cả các khóa, QH hướng tới sự hưng thịnh của đất nước. Vai trò QH rất rõ và cần phát triển để QH tiếp tục mạnh lên. Trên hành trình của mình, QH tìm và đi con đường sáng nhất, hợp tình hợp lý nhất. Tìm con đường sáng, trí tuệ và chân thành, đặt đúng người đúng chỗ để phát triển. Trong các nguồn đầu tư, người ta định nghĩa đầu tư lớn nhất là đầu tư về con người. Trong đầu tư con người, đặt người đúng chỗ là biểu hiện trí tuệ cao nhất. Và nền tảng còn là đoàn kết và dân chủ.

Ngộ ra những vấn đề trên, tôi nghĩ rằng đó là linh hồn thực sự của QH. Còn những vấn đề khác thuộc về hoàn cảnh, điều kiện, thì khóa QH này khóa QH kia có khác nhau – có thể vận dụng linh hoạt. Chế độ phải tồn tại lâu dài với lịch sử. Và phải có một lý thuyết Việt Nam.

- Xây dựng triết lý Việt Nam - triết lý cách mạng Việt Nam để tồn tại lâu dài với lịch sử. Đó có phải là triết lý mới mẻ không ạ?

Lý thuyết cách mạng Việt Nam đã có, không phải lý thuyết ấy thiếu sức thu hút mà cần làm mới nó. Làm mới để thuyết phục lại. Phải tin con đường và tin rằng đó là chân lý. Các nguyên lý của lý thuyết là bất biến. Nhưng cũng phải thấy rằng, cách mạng phải tự đối mặt với hoàn cảnh mới. Xây dựng lý thuyết Việt Nam thực sự để thấy rằng mình đi đúng. Con đường mình đi có triết lý, mình nhận được ra mình từ kinh nghiệm, là con đường hạnh phúc.

Chúng ta đã có con đường, con đường đó có thể tồn tại lâu dài và con đường đó độc lập, đi riêng được. Trong triết lý này nên khẳng định ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp là thống nhất. (Bởi phân lập – là cá thể độc lập, cá thể bất biến; cá thể bất biến dễ sinh ra chủ nghĩa cá nhân vị kỷ). Con người vẫn tự do trong tập thể và phải thống nhất – cái này là thực của cách mạng Việt Nam. Phải tồn tại tập thể - mới là cách mạng. Cách mạng trôi theo dòng biện chứng để tồn tại và chế độ tồn tại. Và cái cần nắm là nắm tinh hoa, nắm cái hồn của cách mạng; còn phần xác thì cứ đổi mới. Đó chính là đổi mới tư duy. Tránh nô lệ tư duy.

- Có sự thật lịch sử để khẳng định điều đó, thưa Hòa thượng?

Vì sao mình đi con đường dân chủ? Phải có lý thuyết của Việt Nam. Lý thuyết này cũng phải như niềm tin nơi tôn giáo vậy. Sự thiêng liêng của Đạo Phật là sự thật, là tôn thờ giáo lý chứ không chỉ là tôn thờ Đức Phật. Đức Phật nói, hãy nương tựa mình và nương tựa vào Pháp chứ đừng nương tựa vào Ngài. Người cộng sản chân chính đi theo tư duy, cái hồn, cái tâm và con đường của Hồ Chủ tịch; phát triển con đường đó, làm mạnh con đường đó. Chân lý đó, nguyên lý đó, sự thật đó dùng để ứng phó với tình hình chứ không phải tìm ra sự thật mới.

- Dạ, thế thì có thể hiểu là cần hoàn thiện triết lý để con đường cách mạng đẹp và thênh thang hơn, thưa Hòa thượng?

Đó là lịch sử. Hoàn mỹ con đường này là vấn đề lớn. Khi đó phải hoàn mỹ cán bộ, đào tạo các thế hệ cán bộ và phải xây dựng nhận thức... Phải nắm vững lý thuyết và lý thuyết này phải mở rộng ra cho nhiều người, nhiều thế hệ. Phải mở rộng không sẽ hẹp hòi đi. Độc lập - Tự do - Hạnh phúc, là lý tưởng cao đẹp, là linh hồn của văn hóa, là tình người. Con người sống để hạnh phúc, đấu tranh để hạnh phúc; làm gì còn lý do nào khác để con người tồn tại. Tư tưởng của Hồ Chủ tịch – chúng ta không bao giờ đi hết, còn mở được nữa. Vì tư duy Hồ Chủ tịch là tư duy nguyên lý. Tư duy nguyên lý không bao giờ lỗi thời. Ví như nước, công thức là H2O, nước thời đại nào cũng vậy, cũng là H2O - đấy là công thức là nguyên lý. Đi vô nguyên lý – không thay đổi, nhưng cần hoàn mỹ lý thuyết, hoàn mỹ guồng máy, hoàn mỹ giáo dục và đào tạo cán bộ.

- Xin trân trọng cám ơn Hòa thượng!

Yên Khánh thực hiện

(Báo Đại Biểu Nhân Dân, số 245-246-247 phát hành ngày 02/09/2011)
Đừng bao giờ nói nhưng gì chưa biết
Delete Edit Quote
 
Reply

NghiaTrung.Com xin giữ bản quyền các thông tin đăng trên website. Chúng tôi không chịu trách nhiệm những trang link ra ngoài.