PHẠM CAO CHẨM (?- 1918)
Phạm Cao Chẩm người làng Xuân Phổ, nay thuộc xã Nghĩa Kỳ, huyện Tư Nghĩa, thi đỗ Tú tài nên thường được gọi là Tú Chẩm.
Phạm Cao Chẩm từng tham gia các phong trào Cần Vương, Duy Tân, vận động và ủng hộ phong trào Đông du. Năm 1908, ông tham gia lãnh đạo phong trào kháng thuế cự sưu bị bắt đày ra Côn Đảo. Mãn hạn tù về quê ông gia nhập Việt Nam Quang phục Hội. Trong vụ mưu khởi của các nhà yêu nước Trung Kỳ năm 1916, ông cùng Lê Ngung, Nguyễn Công Mậu được phân công chỉ huy khởi nghĩa ở Quảng Ngãi. Cuộc toan tính vùng lên cứu nước bị bại lộ, thực dân Pháp đàn áp dã man, Phạm Cao Chẩm một lần nữa bị đày ra Côn Đảo. Năm 1918, ông cùng bạn tù là Nguyễn Công Thưởng (con trai nhà yêu nước Nguyễn Thiện Thuật) tổ chức cướp ngục. Địch phản công, các ông bị bắn chết.
Trần Toại(1892- 1948)
Trần Toại (Giáo Đàm), biệt hiệu là Kim Tương, người làng Thi Phổ Nhất, nay thuộc thị trấn Đồng Cát, huyện Mộ Đức, thi đỗ Tú tài Hán học. Ông tham gia các hoạt động yêu nước thời kỳ 1908- 1916, tham gia thành lập “Hội Thiếu niên ái quốc”, rồi bị Pháp bắt bỏ tù. Năm 1927, ông gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, rồi trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Bí thư Chi bộ đầu tiên của huyện Ba Tơ (mùa Xuân năm 1930), Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên (1931).
Tháng 7/1931, ông bị pháp bắt, kết án khổ sai chung thân, đày đi Buôn Ma Thuột, nhưng bị bệnh nên chúng đưa về Căng An Trí Ba Tơ giam giữ. Tại đây ông đã góp phần tích cực vào cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ (11/3/1945).
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Trần Toại được cử là Chủ tịch (đầu tiên) của Ủy ban nhân dân Cách mạng tỉnh Lê Trung Đình (Quảng Ngãi). Ông bị bệnh qua đời năm 1948.
Nguyễn Công Phương
(1888- 1972)
Nguyễn Công Phương người làng Hoà Vinh, nay thuộc xã Hành Phước, huyện Nghĩa Hành. Ông liên tục tham gia các phong trào yêu nước chống Pháp từ Duy tân Hội (1906), đến kháng thuế cự sưu (1909), Việt Nam Quang phục Hội. Năm 1926 ông bắt đầu nghiên cứu, tìm hiểu chủ nghĩa cộng sản và đến năm 1927 chuyển sang hoạt động theo khuynh hướng cách mạng vô sản của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1930, sau khi Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi thành lập, ông được kết nạp vào Đảng. Tháng 10 năm đó được bầu vào Tỉnh ủy, được phân công là dự bị Bí thư, rồi là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi (1935- 1937), nhiều lần bị địch bắt tù đày.
Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông lần lượt giữ các chức vụ Chủ tịch UBND cách mạng huyện Nghĩa Hành, Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Quảng Ngãi, Chủ tịch Ủy ban Liên Việt miền Nam Trung bộ, ủy viên đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tháng 6/1969, Nguyễn Công Phương được Đại biểu Đại hội Quốc dân miền Nam bầu làm ủy viên Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Ông qua đời năm 1972.
Nguyễn Nghiêm(1904- 1931)
Nguyễn Nghiêm sinh năm 1904, người làng Tân Hội, nay thuộc xã Phổ Phong, huyện Đức Phổ, là chiến sĩ cách mạng vô sản, Bí thư đầu tiên của Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi.
Nguyễn Nghiêm bắt đầu tham gia các hoạt động yêu nước từ năm 14 tuổi. Năm 20 tuổi (1924), ông tiếp xúc với cụ Trần Kỳ Phong và được nghe nhà cách mạng lão thành đề cập và ca ngợi chủ nghĩa cộng sản. Năm 1925, Nguyễn Nghiêm, Nguyễn Ngọc Thụy, Trần Kỳ Truyện lập Công Ái xã và bắt đầu tìm hiểu chủ nghĩa Mác- Lênin. Về sau Công Ái xã giải thể, các thành viên tích cực trong đó có Nguyễn Nghiêm chuyển hướng hoạt động và gia nhập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên. Cuối năm 1927, Tỉnh bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên thành lập, ông được cử vào ban chấp hành, phụ trách huyện Đức Phổ.
Tháng 7/1929, Bí thư Tỉnh bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên Quảng Ngãi Trương Quang Trọng tập hợp một số đồng chí tại núi Xương Rồng (huyện Đức Phổ) thành lập tổ chức “Dự bị Cộng sản”, Nguyễn Nghiêm được giao nhiệm vụ xúc tiến thành lập Đảng bộ tỉnh. Tháng 8/1929, Trương Quang Trọng, Hồ Độ và một số yếu nhân của Tỉnh bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên Quảng Ngãi bị bắt, Nguyễn Nghiêm lãnh đạo các hội viên còn lại thực hiện chủ trương vô sản hoá, cử một số cán bộ liên hệ với các tổ chức cộng sản trong nước.
Ngày 03/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Ngay sau đó, Nguyễn Nghiêm đã bắt liên lạc với Đảng và đến giữa tháng 3/1930, Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi được thành lập do ông làm Bí thư lâm thời. Tháng 6 năm đó, tại Đại hội Đảng bộ lần thứ I, tiến hành tại làng Hùng Nghĩa, xã Phổ Phong, huyện Đức Phổ, Nguyễn Nghiêm được cử làm Bí thư đầu tiên của Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi.
Ngày 01/8/1930, Đảng bộ tổ chức rải truyền đơn, treo biểu ngữ ở nhiều nơi trong tỉnh, khiến kẻ địch hoang mang, ảnh hưởng của Đảng bộ bắt đầu lan rộng trong quần chúng. Đêm 07/10/1930, Nguyễn Nghiêm trực tiếp lãnh đạo trên 5.000 người xuống đường biểu tình, mít tinh tấn công và làm chủ huyện đường Đức Phổ cho đến sáng hôm sau. Ngày 13/10, Tỉnh ủy họp ở làng Nghĩa Lập (huyện Mộ Đức), chủ trương tiếp tục biểu tình công khai và về tổ chức, Tỉnh ủy chia làm hai bộ phận: bộ phận phía Nam tính từ sông Trà Khúc trở vào do Nguyễn Nghiêm lãnh đạo, phía Bắc tỉnh từ sông Trà Khúc trở ra do Phan Thái Ất phụ trách. Nguyễn Nghiêm đi Quảng Nam tìm bắt liên lạc với Xứ ủy Trung Kỳ, xin chỉ thị về việc dấy lên cao trào mùa Xuân năm 1931. Khi về đến Bình Sơn, ông lọt vào tay địch nhưng trốn thoát được, lên Trà Bình. Sau đó, theo ủy nhiệm của Xứ ủy, ông vào Bình Định, Phú Yên để củng cố các tổ chức cơ sở Đảng.
Sau cuộc biểu tình đầu năm 1931, địch bắt mẹ, vợ và đốt nhà Nguyễn Nghiêm, treo giải thưởng cho ai lấy được đầu ông. Ba Tỉnh uỷ viên ở phía Nam tỉnh bị bắt. Nguyễn Nghiêm chuyển cơ quan Tỉnh ủy từ Tân Hội về Gò Huyện (huyện Mộ Đức). Các Đảng viên dự bị được lệnh thoát ly. Tỉnh ủy phát động “3 ngày căm thù” (16,17,18/02/1931), làn sóng đấu tranh vùng lên mạnh. Địch ra sức khủng bố, truy lùng. Nguyễn Nghiêm phải cải trang dời về Sông Vệ, sau đó về làng An Đại (huyện Tư Nghĩa). Trên đường đi nắm tình hình, Nguyễn nghiêm bị bắt đêm 15/1 năm Tân Mùi (06/3/1931).
Trong tù Nguyễn Nghiêm giữ vững ý chí cách mạng. Mặc cho thực dân Pháp và Tuần vũ Nguyễn Bá Trác lôi kéo, dụ dỗ, tra tấn, ông vẫn giữ tròn khí tiết, tìm cách móc nối với phong trào, xây dựng Chi bộ Đảng trong tù. Không lay chuyển được ý chí của người Cộng sản trung kiên, địch đem Nguyễn Nghiêm ra “xử trảm” theo Luật Gia Long, tại bãi sông Trà Khúc vào 3 giờ sáng 23/4/1931
Trần Kỳ Phong(1872- 1941)
Trần Kỳ Phong người huyện Bình Sơn, sinh trưởng tại làng Châu Me, nay thuộc xã Bình Châu, sau về già sống ở làng Lệ Thủy, nay thuộc xã Bình Trị.
Trần Kỳ Phong đỗ Tú tài năm 1888, mở trường dạy học ở quê nhà rồi tham gia phong trào Cần vương. Năm 1904 ông gặp chí sĩ Phan Bội Châu. Năm 1906, tham gia thành lập Hội Duy tân ở Quảng Ngãi. Năm 1908, tham gia phong trào kháng thuế, cự sưu, bị địch bắt kết án từ hình, sau đổi thành khổ sai chung thân. Đầu năm 1909, ông bị đày ra Côn Đảo, sau giảm án còn 13 năm tù. Ra tù (tháng 3/1921), ông lại bí mật liên hệ với các nhà yêu nước, tuyên truyền, ca ngợi chủ nghĩa cộng sản. Năm 1926, ông tham gia thành lập một tổ chức yêu nước lấy tên là Tân Việt đảng. Ngay sau đó, tổ chức này cử Hồ Độ, Nguyễn Bút ra Nghê An liên hệ với đảng Tân Việt (ở Vinh) và Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1927, Trần Kỳ Phong chuyển sang hoạt động theo hướng của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Mùa Thu năm 1929, ông bị Pháp bắt bỏ tù 11 tháng. Ra tù ông lại tiếp tục hoạt động yêu nước. Khi Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi thành lập, ông trở thành một ủng hộ viên tích cực. Ông được Đảng bố trí tham gia nhiều hoạt động trong phong trào dân chủ (1936- 1939). Ngày 01/7/1937, Trần Kỳ Phong dẫn đầu đoàn biểu tình đến gặp Gôđa và phái bộ chính phủ Pháp để đưa kiến nghị đòi dân sinh, dân chủ. Năm 1939, ông về sống ở làng Lệ Thủy (xã Bình Trị) và qua đời năm 1941.
Trương Quang Trọng
(1906- 1931)
Trương Quang Trọng sinh năm 1906 tại làng Phú Nhơn, nay thuộc thị trấn Sơn Tịnh, huyện Sơn Tịnh. Đầu thập niên 20 thế kỷ XX, Trương Quang Trọng ra Huế học ban Thành chung, rồi cùng một số bạn học cùng chí hướng thành lập Hội học sinh Ái hữu Trung Kỳ, có xu hướng tiến bộ, yêu nước. Năm 1923, Trương Quang Trọng ra Hà Nội học ở trường Bưởi rồi thi đỗ vào khoa Y trường Cao đẳng Đông Dương. Năm 1926, ông bị đuổi học vì tham gia phong trào đòi ân xá cụ Phan Bội Châu (1925) và để tang cụ Phan Chu Trinh (1926). Trong qúa trình tham gia phong trào đấu tranh, Trương Quang Trọng tiếp xúc với Tôn Quang Phiệt và gia nhập Đảng Tân Việt. Mùa Hè năm 1926, ông trở về Quảng Ngãi, tập hợp các thành viên Công Ái xã (do Nguyễn Thiệu và một số người xây dựng), thành lập Tỉnh bộ đảng Tân Việt, hoạt động theo cương lĩnh của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1927, sau khi Nguyễn Thiệu (đại diện tổng bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên, phụ trách Trung Kỳ) về làm việc với Tỉnh bộ Tân Việt Quảng Ngãi, Trương Quang Trọng và các đồng chí chuyển hướng hoạt động của Tân Việt Quảng Ngãi, thành lập tổ chức Việt Nam Cách mạng Thanh niên của tỉnh, do ông làm Bí thư. Cùng năm ấy, Trương Quang Trọng được Tỉnh bộ cử đi dự lớp tập huấn ở Quảng Châu (Trung Quốc). Tháng 5/1929, ông được cử làm đại biểu của Tỉnh bộ Quảng Ngãi dự Đại Hội toàn quốc của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Hồng Kông.
Cuối tháng 7/1929, ông tập hợp các đồng chí tích cực trong Tỉnh bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại núi Xương Rồng (huyện Đức Phổ) thành lập tổ chức “Dự bị Cộng sản”. Cuối năm 1929, ông cùng 20 đồng chí bị Pháp bắt giam ở nhà lao Quảng Ngãi. Đầu năm 1931, Pháp chuyển số tù nhân này vào lao Quy Nhơn, rồi đưa lên ngục Kon Tum. Đến cuối năm, địch âm mưu chuyển tù chính trị ở Kon Tum đi làm đường ở Đắk Pết, hòng lợi dụng lam sơn chướng khí và lao động khổ sai giết dần giết mòn những người tù yêu nước. Trương Quang Trọng cùng Đặng Thái Thuyến, Nguyễn Lung (Nghệ An), Nguyễn Long (Hà Tĩnh), Lê Trọng Kha (Quảng Ngãi),… quyết định đấu tranh phản kháng và ông được cử làm trưởng ban.
Ngày 12/12/1931, cai ngục truy bức người tù đi lao động khổ sai, Trương Quang Trọng hiên ngang đấu tranh và bị bắn chết. Số tù nhân còn lại quyết liệt đấu tranh, buộc địch phải nhượng bộ, hủy bỏ việc bắt tù đi làm đường. Lịch sử gọi đây là “cuộc đấu tranh lưu huyết” ở ngục Kon Tum.
Nguyễn Thiệu(1903- 1989)
Nguyễn Thiệu người làng Thạch Trụ, nay thuộc xã Đức Lân, huyện Mộ Đức, đỗ Tú tài Tân học năm 1923, thường được gọi là Tú Thiệu.
Nguyễn Thiệu là một trong những người thành lập “Công Ái xã’, sau đó ông gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, được cử đi dự lớp huấn luyện ở Quảng Châu, Trung Quốc (1926), rồi trở về quê mở nhiều lớp huấn luyện cho thanh niên, xây dựng cơ sở tổ chức của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Quảng Ngãi.
Tháng 5/1929, Nguyễn Thiệu là đại biểu Kỳ bộ Trung Kỳ đi dự Đại hội của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Hồng Kông (Trung Quốc). Mùa Thu năm 1929, tổ chức An Nam Cộng sản Đảng được thành lập ở Nam Kỳ, ông là một trong 6 ủy viên Ban lâm thời chỉ đạo. Tháng 2/1930, ông và Châu Văn Liêm là đại biểu tổ chức An Nam Cộng sản Đảng tham dự Hội nghị hợp nhất- thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức tại Hồng Kông (Trung Quốc).
Những năm 1930- 1931, Nguyễn Thiệu là ủy viên Xứ ủy Nam Kỳ, kiêm bí thư liên tỉnh Mỹ Tho- Bến Tre- Cà Mau. Năm 1932, ông bị Pháp bắt, kết án khổ sai chung thân, đày đi Côn Đảo. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Nguyễn Thiệu được Chính phủ cách mạng đón về đất liền.
Trong kháng chiến chống Pháp ông được bổ sung vào Tỉnh ủy Quảng Ngãi, sau đó giữ chức Giám đốc Hoa kiều vụ Liên khu V.
Sau Hiệp định Giơnevơ 1954, Nguyễn Thiệu tập kết ra Bắc, tham gia xây dựng Viện bảo tàng Cách mạng Việt Nam (giữ chức Viện phó, rồi Viện trưởng). Ông mất năm 1989 tại thành phố Hồ Chí Minh.
Trương Quang Giao(1910- 1983)
Trương Quang Giao người làng Mỹ Khê, nay thuộc xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh.
Ông gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 9/1930, sau đó trở thành Bí thư đầu tiên của chi bộ Mỹ Khê. Từ cuối năm 1931 đến năm 1934, Trương Quang Giao bị Pháp cầm tù. Năm 1936, ông tham gia phong trào Mặt trận Bình dân, là thành viên Ủy ban mặt trận đấu tranh, phụ trách Hội Ái hữu tỉnh Quảng Ngãi.
Ngày 25/02/1939, Trương Quang Giao lại bị Pháp bắt, xử tù 5 năm, đày đi Buôn Ma Thuột. Ở đây, ông và các bạn tù là Phạm Kiệt, Trần Quý Hai, Trần Lương (cùng quê Quảng Ngãi) bí mật tiếp tục hoạt động cách mạng, liên lạc với tổ chức Đảng bên ngoài.
Tháng 02/1944, địch chuyển ông về Căng An Trí Ba Tơ. Ở đây ông cùng Phạm Kiệt (chuyển về Ba Tơ năm 1943), Nguyễn Đôn, Trần Quý Hai, Trần Lương kiện toàn chi bộ Đảng, xây dựng Ủy ban Vận động Cứu quốc tỉnh. Cuối tháng 12/1944, Tỉnh ủy Quảng Ngãi được thành lập, do ông làm Bí thư, lãnh đạo phong trào đánh Pháp, đuổi Nhật trong toàn tỉnh mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Ba Tơ (11/3/1945) và khởi nghĩa, giành chính quyền ở Quảng Ngãi trong Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Trong kháng chiến chống Pháp, Trương Quang Giao giữ nhiều chức vụ quan trọng ở Liên khu V như: Chính ủy Bộ tư lệnh Khu V, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam- Đà Nẵng, Bí thư Ban Cán sự Tây Nguyên, Bí thư Liên khu ủy V.
Trương Quang Giao tập kết ra Bắc năm 1955, lần lượt giữ các chức vụ: Phó ban Tổ chức Trung ương, Ủy viên Ban kiểm tra Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Ủy ban Thống nhất của Chính phủ.
Nguyễn Năng Lự(1910- 1944)
Nguyễn Năng Lự người làng Phú Thọ, nay thuộc xã Nghĩa Phú, huyện Tư Nghĩa. Nguyễn Năng Lực tham gia các hoạt động yêu nước từ năm 1924 khi đang học ở trường Quốc học (Huế). Tháng 6/1925, ông bị đuổi học vì tham gia đấu tranh đòi thả Phan Bộ Châu, sau đó về quê gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, rồi trở thành Đảng viên Đảng cộng sản (1930), Bí thư Huyện bộ đông Tư Nghĩa, góp phần tích cực thành lập Huyện ủy tư Nghĩa (tháng 3/1931).
Cuối năm 1931, ông bị bắt, kết án 13 năm tù giam, đày đi Buôn Ma Thuột, Kon Tum. Năm 1932, ông vượt ngục về Quảng Ngãi rồi vào Sài Gòn, liên lạc với Trung ương, tham gia Xứ ủy Trung Kỳ, tham gia Ban liên lạc miền Nam Đông Dương của Đảng, phụ trách Nông Hội vận. Nhờ giỏi ngoại ngữ (Anh, Pháp, Hoa latinh), ông được cử đi hoạt động ở Thái Lan, Malaixia, Xingapo. Năm 1935, từ Sài Gòn ông chuẩn bị đi Hồng Kông thì bị Pháp bắt đưa ra Huế, kết án 20 năm tù, đày đi Lao Bảo, Buôn Ma Thuột. Năm 1939 ông vượt ngục, liên lạc với trung ương hoạt động; năm 1940, lại bị bắt, bị đày lên Buôn Ma Thuột. Tháng 6/1941, vì bị lao nặng nên dịch đưa ông về An Trí ở Quảng Ngãi. Tháng 10/1941, ông giả vờ đi tu ở nhà thờ La Vang (Quảng Trị) rồi trốn ra Nghệ An , Hà Nội, liên lạc với Trung ương và Xứ ủy Trung Kỳ. Tháng 3/1942, Nguyễn Năng Lự về Quảng Ngãi triệu tập Hội nghị cán bộ, bàn chương trình hành động và thành lập Tỉnh ủy lâm thời. Hội nghị bị lộ, Pháp bắt ông, kết án tù khổ sai chung thân, giam tại lao Quảng Ngãi. Ông vượt ngụ tiếp tục chỉ đạo phong trào cách mạng, nhưng lại bị bắt, đày lên Buôn Ma Thuột.
Nguyễn Năng Lự qua đời ngày 06/5/1944 trong nhà lao sau mấy lần tiếp tục vượt ngục và bị bắt.
Võ Sỹ(1910- 1948)
Võ Sỹ (Lê Văn Sỹ) người làng Minh Tân, nay thuộc xã Đức Minh, huyện Mộ Đức. Năm 1925, Võ Sỹ tham gia tổ chức Công Ái xã, sau đó trở thành hội viên Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Tháng 8/1929, ông bị bắt bỏ tù. Trong tù ông được những người cộng sản giác ngộ lý tưởng cách mạng vô sản. Ra tù, ông tích cực hoạt động khôi phục tổ chức Đảng và trở thành Bí thư Tỉnh ủy (tháng 01/1932). Sau đó bị Pháp và Nam triều bắt, kết án khổ sai đày ra Côn Đảo.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông được đón về và được bố trí hoạt động ở Nam bộ. Trong kháng chiến chống Pháp, ông lấy tên là Lê Văn Sỹ, tham gia lãnh đạo kháng chiến ở mặt trận Sài Gòn- Chợ Lớn- Gia Định và hy sinh khi đang là Bí thư Đặc khu uỷ Sài Gòn- Chợ Lớn- Gia Định (nay là thành phố Hồ Chí Minh).
Nguyễn Chánh người làng Thọ Lộc, xã Tịnh Hà, huyện Sơn Tịnh.
Nguyễn Chánh (1914- 1957)
Nguyễn Chánh tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1930, sau đó được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông từng bị Pháp và Nam triều bắt giam tại nhiều nhà tù ở Trung Kỳ. Nguyễn Chánh từng giữ các chức vụ: Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi (1939), Chính trị viên trưởng, Bí thư Chi bộ Đội Du kích Ba Tơ (tháng 3/1945), Bí thư Liên khu ủy V (1951- 1952), Chính ủy kiêm Tư lệnh các lực lượng vũ trang Liên khu V, ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II. Đồng chí Nguyễn Chánh là nhà lãnh đạo toàn năng, nhà quân sự tài ba, có đóng góp rất lớn vào việc xây dựng lực lượng Du kích Ba Tơ vững mạnh, xây dựng các lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Ngãi và Liên khu V, là người chỉ huy đánh thắng cuộc hành quân Átlăng của Pháp (đánh vào vùng tự do liên khu V), giải phóng tỉnh Kon Tum. Ông qua đời năm 1957 tại Hà Nội khi đang giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục Cán bộ, Bộ Quốc phòng.
Phạm Xuân Hoà(1913- 1957)
Phạm Xuân Hoà người làng Thủy Thạch, nay thuộc xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ.
Ông gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1931, là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi giai đoạn 1933- 1934 (lần I) và 1951- 1954, Bí thư Ban Cán sự Trung- Nam Xứ ủy Trung Kỳ (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà), bị Pháp bắt kết án 15 năm tù trong vụ án “Tái tổ Đảng Cộng sản Đông Dương” (12/7/1935).
|