Quảng Ngãi và Chương trình hành động về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020
Tỉnh Quảng Ngãi có chiều dài bờ biển khoảng 130 km, có 6 cửa biển: Cửa Sa Cần, Sa Kỳ, Cổ Lũy, Cửa Lở, Mỹ Á và Sa Huỳnh. Cách bờ biển khoảng 25km là huyện đảo Lý Sơn với diện tích 10km2, tương đối thuận lợi cho việc khai thác hải sản. Vùng đặc quyền kinh tế biển Quảng Ngãi rộng trên 48.000 km2, trong đó vùng khai thác có hiệu quả khoảng trên 11.000 km2, trữ lượng hải sản khoảng trên 70.000 tấn, trữ lượng khai thác khoảng 30.000 tấn với nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao. Vùng ven biển Quảng Ngãi với gần 1000 ha mặt nước rất thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng thủy sản. Quảng Ngãi có 2 vịnh nước sâu, trong đó 1 vịnh đã trở thành Cảng nước sâu gắn với KCN phức hợp Dung Quất. Tỉnh Quảng Ngãi đang có kế hoạch phát triển tiếp cảng nước sâu thứ 2 tại vịnh Mỹ Hàn (Vịnh Dung Quất II), cách cảng Dung Quất I khoảng 15 km, để trở thành Tổ hợp cảng nước sâu – KCN nặng Dung Quất II. Do vậy, biển và vùng biển Quảng Ngãi chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế gắn với bảo vệ quốc phòng an ninh, phục vụ tích cực sự phát triển Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước nói chung và tỉnh nhà nói riêng
Kế hoạch được UBND tỉnh ban hành đề ra mục tiêu xây dựng vùng biển, ven biển, hải đảo Quảng Ngãi phát triển toàn diện, bền vững cả nông, lâm, ngư, công nghiệp, xây dựng, thương mại dịch vụ và xuất nhập khẩu, để đến năm 2020 trở thành một tỉnh mạnh về biển, làm giàu từ biển.
Kế hoạch này là bước đột phá để khu vực biển, ven biển và hải đảo của tỉnh có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội biến khu vực này thành vùng kinh tế phát triển năng động góp phần quan trọng trong việc tăng trưởng GDP của tỉnh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp và dịch vụ góp phần tăng trưởng kinh tế biển, ven biển một cách toàn diện. Theo đó, phấn đấu đến năm 2020, kinh tế trên biển và các huyện vùng ven biển, đảo đóng góp trên 80% GDP của cả tỉnh, đóng góp 85-90% giá trị kim ngạch xuất khẩu; thu nhập bình quân đầu người vùng ven biển đến năm 2010 khoảng 20-22 triệu đồng/năm, đến năm 2020 từ 40-42 triệu đồng/năm.
Theo kế hoạch, hình thành và phát triển một số ngành kinh tế biển mũi nhọn gồm: Khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản, du lịch biển, khai thác và chế biến dầu- khí… có trình độ tương đối hiện đại ngang tầm với các với các nước trong khu vực; xây dựng và phát triển nhanh Khu kinh tế Dung Quất, các khu công nghiệp của tỉnh, tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng biển gồm: Cảng biển, cảng cá, khu neo đậu và trú bão tàu thuyền, các khu du lịch, điểm du lịch các huyện ven biển và huyện đảo Lý Sơn.
Dự kiến, tổng nhu cầu vốn đầu tư phát vùng ven biển, hải đảo đến năm 2020 ước khoảng 327.787 tỷ đồng, trong đó dự kiến kế hoạch năm 2010 là 17.600 tỷ đồng; giai đoạn 2011-2015 là 110.066 tỷ đồng tương đương 6,92 tỷ USD; giai đoạn 2016-2020 là: 200.121 tỷ đồng, tương đương 12,58 tỷ USD
Rất mừng là Quảng Ngãi của chúng ta giờ đã thay đổi rất nhiều mà quan trọng nhất là thay đổi Tư Duy. Chúng ta tuy chưa lớn mạnh lắm nhưng chúng ta cũng có những cơ sở ban đầu làm bệ phóng. Hãy nắm lấy cơ hội. Chúng ta có một bờ biển dài và đẹp, vì vậy chúng ta cũng phải biết khai thác nó. Tuyến đường ven biển chuẩn bị đầu tư là điều kiện cần thiết cho việc phát triển vùng ven biển, cụ thể hoá lợi thế của tỉnh.
Mong rằng mỗi một lần về quê là có một sự thay đổi lớn. Chúng ta phải thay đổi. Quảng Ngãi mến thương ơi, chúng tôi vui vì những thay đổi của "bạn".