Chào các bạn,
Có lẽ cái tên "bờ xe nước" có lẽ hơi "xa lạ" đối với những ae N.T nói riêng hay Q.Ngãi nói chung sinh ra vào những thập niên 80 trở về sau này. Bởi lẽ, kể từ khi công trình thủy lợi Thach Nham hoàn thành (khoảng 1985) thì bờ xe nước không còn hiện diện nữa. Tuy nhiên, trong tâm tưởng những người con của đất Q.Ngãi đã từng biết về bờ xe nước thì vẫn luôn lưu giữ hình ảnh và hoài niệm về nó.
Quê ngoại tôi ở Sơn Tịnh, một xóm nhỏ nép mình bên dòng sông Trà, cứ những lần về Ngoại thì hình ảnh bờ xe và tiếng nước rì rào luôn làm cho tâm hồn mình thư thái. Đứng trên đầu cầu phía bắc, nhìn về hướng tây, bên rặng tre xanh dài ngút mắt là hình ảnh kỳ vĩ của bờ xe như choáng ngợp không gian trước mặt, nghe tiếng nước reo mà chân như không muốn rời...
Trong ca khúc "Quảng Ngãi đất mẹ ngoan cường" nhạc sĩ Trương Quang Lục có câu: "tiếng hát bờ xe ven sông Trà Khúc..." không biết có gợi lên trong trí tưởng tượng của các bạn trẻ sau này một chút tò mò?
Tôi xin post lên mục này một số bài viết sưu tầm được cho mọi người đọc để thêm tự hào về quê hương mình hơn.
thân,
[img]C:Documents and SettingsGuestDesktopHHImage[/img]
[center][b]Bờ xe nước - Quảng Ngãi[/b][/center]
Cho đến những năm 80 của thế kỷ XX, khi đi trên quốc lộ 1A, ngang qua Quảng Ngãi, người ta vẫn còn trông thấy những xe nước dọc sông Trà, sông Vệ. Nhưng rồi những hình ảnh thân quen tự hàng mấy trăm năm trước tựa như lời ru, bỗng lặn khuất và rồi bặt tăm.
Xe nước tương ứng với chữ Hán là thủy xa với ý niệm dùng chính sức nước để đưa nước lên đồng ruộng. Xe nước không chỉ có ở Việt Nam và ở Việt Nam không chỉ có xe nước ở Quảng Ngãi. Nhưng ở Quảng Ngãi, xe nước có số lượng lớn, quy mô hoành tráng, nổi tiếng nhất trong nước và ghi đậm trong tâm trí người địa phương cũng như khác phương xa, nhạc sĩ Vân Đông có bài ca Nhớ đàn xe nước. Nhà thơ Nguyễn Viết Lãm có câu: Xe sông chở nước trưa hè lên cao. Nhạc sĩ Trương Quang Lục trong ca khúc nổi tiếng Quảng Ngãi đất mẹ ngoan cường có câu: Tiếng hát bờ xe ven sông Trà Khúc…
Xe nước ở Quảng Ngãi chủ yếu trên sông Trà Khúc và sông Vệ. Trong đó, xe nước trên sông Trà Khúc lớn hơn về số lượng lẫn quy mô. Ở các sông này, xe nước trải thành hàng trên sông, lấp lánh, róc rách tiếng nước ngày đêm không ngừng chảy, tạo cho bức tranh sông núi thêm phần sinh động, hùng vĩ mà nên thơ. Ở rìa phía bắc tỉnh Quảng Ngãi, trên sông Trà Khúc cũng tập trung nhiều xe nước. Chưa kể xe nước làng Phú Nhơn bên kia sông, trên địa hạt thành phố Quảng Ngãi ít nhất cũng có 3 xe nước của các làng Thu Phố, Chánh Lộ, Ba La.
Theo P.Guilleminet trong tập Một ngành công nghiệp An-nam thì xe nước du nhập vào Quảng Ngãi đầu tiên ở sông Vệ vào khoảng giữa thế kỷ XVIII, trải qua một thời gian dài về sau đến sông Trà Khúc và chính ở đây xe nước được dựng với quy mô và có số lượng lớn (chúng tôi đã tìm được tư liệu ghi rất khớp vớưi công trình của Guilleminet, với tên tuổi của người phụ nữ được gọi là “Mụ Diệm”, người đầu tiên đưa kỹ thuật xe nước từ phủ Hoài Nhơn về dựng đặt ở làng Bồ Đề, Quảng Ngãi). Theo Nguyễn Bá Trác trong tập Quảng Ngãi tỉnh chí, thì ở Quảng Ngãi thời điểm 1933 có đến 96 bờ xe nước. Theo Nguyễn Đóa và Nguyễn Đạt Nhơn trong tập Địa dư tỉnh Quảng Ngãi thời điểm 1939, thì sông Vệ có chừng 50 bờ xe nước, sông Trà Khúc có trên 40 bờ.
Một bờ xe có từ 3 đến 10 bánh, tưới từ 15 đến 50ha. Nhờ xe nước mà những năm hạn hán, mùa màng ở Quảng Ngãi đỡ bị thiệt hại. Theo tài liệu Quảng Ngãi tỉnh chí, trong số các xe nước được thống kê, xe nước làng Thu Phố có đến 9 bánh (chỉ sau xe nước làng Đồng Nhơn 10 bánh), tưới được 150 mẫu ruộng, số hoa lợi thu được 20.184 ang lúa, tiền làm xe nước tốn đến 3.500 đồng, chi tiêu rồi còn 753 đồng, đều cao nhất so với các xe nước khác, kể cả xe nước làng Đồng Nhơn. Còn theo tập sách của Guilleminet (đã dẫn) thì xe nước các làng Thu phố, Chánh Lộ cũng thuộc hạng cao về chi phí dựng đặt lẫn hoa lợi thu được. Các tài liệu khác còn ghi ở làng Ba La có cả bờ xe đôi, nghĩa là cùng một bờ có một đôi xe nước vận hành. Tài liệu của Guilleminet còn trích một lá đơn (chữ Hán) của một người tên là Võ Văn Gui quê gốc làng Ba La, đến trú tại Chánh Lộ năm Đồng Khánh thứ ba (1888) xin dựng 1 guồng xe nước tại Chánh Lộ để tưới cho các thôn Bầu Lân, Thông Viên và Cổ Đồng. Như vậy, rất có thể guồng nước ở Chánh Lộ xuất hiện muộn hơn xe nước ở các làng Ba La, Thu Phố và chắc do địa hình khó dựng đặt và người biết dựng đặt xe nước có muộn hơn.
Không cần phải nhắc lại rằng, các xe nước trên sông Trà Khúc đóng vai trò rất lớn trong sản xuất nông nghiệp trong vùng, trong điều kiện mực nước sông có độ chênh quá cao so với đồng ruộng mà chưa có những phương tiện cơ giới nào thay cho sức người. Mặc dù xe nước luôn phải dựng đặt và dỡ dọn hàng năm để tránh lũ lụt, tốn kém rất nhiều tiền bạc và công sức, nhưng không vì thế mà các xe nước phải ngưng hoạt động trong một năm nào. Gần như nó cũng không ngưng cả những khi có chuyển biến của thời cuộc, chiến tranh. Các xe nước, trong đó nổi bật các xe nước làng Thu Phố, Chánh Lộ, Ba La thuộc địa hạt thành phố Quảng Ngãi ngày nay, vẫn liên tục tồn tại qua nhiều thời kỳ, từ thời Tây Sơn đến nhà Nguyễn, đến thời Pháp thuộc, qua hai cuộc kháng chiến đến sau 1975. Sự tồn tại của các xe nước luôn gây ấn tượng rất mạnh cho những ai có dịp đến thăm Quảng Ngãi.
Các nhà nghiên cứu Pháp đã không tiếc công sức đi sưu tầm tài liệu, ghi chép điền dã, nghiên cứu tỉ mỉ về kỹ thuật, sự vận hành, cơ chế ăn chia, lợi tức do các xe nước đem lại. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, cứu nước các bờ xe nước vẫn hoạt động bình thường. Nhiều người Mỹ đã chụp ảnh, quay phim, thuê đóng mô hình xe nước để làm vật kỷ niệm mang về nước. Sau 1975, guồng xe nước tiếp tục tồn tại đến khoảng 10 năm sau, khi công trình Thạch Nham được xây dựng. Tính ra xe nước ở Quảng Ngãi đã tồn tại liên tục khoảng 250 năm, gắn liền với hình ảnh thân thương của những người nông dân Quảng Ngãi cần mẫn.
Khi xe nước còn tồn tại, đã có biết bao thơ văn, bao bài hát ca ngợi bờ xe. Xe nước biến mất khiến mọi người luyến tiếc. Đã có những ý tưởng muốn dựng đặt lại một vài xe nước ở đoạn sông phía bắc thành phố Quảng Ngãi để lưu lại hình ảnh đẹp đẽ của một thời. Đây là một ý tưởng hay, nếu thành hiện thực nó sẽ khiến xe nước sẽ thêm đẹp trong hoài niệm cuả mọi người.
qnthahuong (theo Baobinhdinh)
[center][b]BỜ XE NƯỚC[/b][/center]
[img]
[/img]
Ngày nay những xe nước nổi tiếng một thời ở tỉnh Quảng Ngãi đã hoàn toàn vắng bóng, nhưng trong ký ức của những người đứng tuổi, xe nước vẫn là một hoài niệm đẹp. Xe nước đã đi vào thi ca, nhạc hoạ. Xe nước càng đẹp khi ta hiểu rằng nó đã gắn với sự sống của người dân Quảng Ngãi hàng trăm năm, thậm chí vài ba trăm năm. Cứ thử hỏi, trong suốt mấy trăm năm đó, không có những xe nước, thì các cánh đồng, làng mạc ở Quảng Ngãi sẽ ra sao ?
Những bờ xe nước đặt trên sông Vệ và sông Trà Khúc không chỉ gắn liền với cuộc sinh tồn của người dân địa phương mà nó còn làm cho những khách phương xa có ấn tượng rất mạnh. Và cũng như người Việt ta, câu hỏi đầu tiên đối với du khách luôn là: Xe nước do người địa phương tự sáng chế hay được du nhập từ đâu tới ? Đó cũng là câu hỏi của chủ sự hành chính Pháp ở Quảng Ngãi La Borte, và ông đã tìm câu trả lời từ dân gian: Đó là “lão Thêm” đã sáng chế. Lão Thêm ở làng Bồ Đề, nay thuộc xã Đức Nhuận, huyện Mộ Đức, với những sáng chế bờ xe nước lão được Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc châu phê vào “chính chấp bằng” năm 1790. Hiển nhiên điều này chưa thật chắc chắn.
Người ta nói nhiều về các bờ xe nước trên sông Trà Khúc là có lí, vì chính ở sông Trà Khúc các bờ xe nước có quy mô rất lớn rất ấn tượng. Nhưng có lẽ cũng không nên quên rằng những bờ xe nước trên sông Vệ, nhất là chuyện về xe nước ở làng Bồ Đề cũng hết sức thú vị. Từ sách “Đại Nam thực lục “ do Quốc Sử Quán triều Nguyễn biên soạn, ta được biết vào năm 1874, vua Tự Đức đã quyết định cho làng Bồ Đề được vay 500 quan kẽm để dựng đặt xe nước. Có lẽ đó cũng là kết quả của 4 năm trước đó, năm 1870, quan Bố Chánh Quảng Ngãi là Nguyễn Thông từng có sớ tâu xin vua cho Bồ Đề, Năng An và các làng lân cận được miễn thuế “biệt nạp” 80 quan đánh vào bờ xe nước. Lý lẽ của Nguyễn Thông như sau:
“Lại xét rằng hạt của thần, thuế biệt nạp chỉ có thôn Đông Dương xã Văn Lâm – xã Long Phụng, thôn Phước Lộc – xã Bồ Đề, xã Năng An phải nộp thuế guồng nước đằng viên hơn 80 quan. Song nghề nông không gì cần bằng nước, việc đắp đập khơi ngòi là làm lợi cho dân, dù cho tiêu tốn công quỹ triều đình cũng không tiếc, huống chi kẻ tiểu nhân tự lo lấy mà lại theo bắt nộp thuế sao ?”. Vua Tự Đức đã cho miễn thuế.
Xe nước làng Bồ Đề đã tồn tại một thời gian dài cùng với hàng trăm bờ xe nước ở Quảng Ngãi.Theo Nguyễn Bá Trác trong “Quảng Ngãi tỉnh chí" thì năm 1933, toàn tỉnh Quảng Ngãi có 96 xe nước, riêng ở Mộ Đức, các làng Long Phụng, Nghĩa Lập, Bồ Đề có 25 guồng xe trên sông Vệ .
Trong kháng chiến chống Pháp, mặc dù bị giặc Pháp đánh phá, oanh tạc nhưng Bồ Đề và Năng An (xã Đức Nhuận ngày nay) vẫn được dựng 7 guồng xe nước. Từ Bình Sơn, do khó khăn về nước tưới, người dân cũng được cử vào đây để học cách dựng guồng xe nước về dựng trên sông Trà Bồng.
Thật là những chuyện đáng tự hào về sự sáng tạo của cha ông ta thuở trước.