Vì sao có tên gọi Nghĩa Trung, La Châu, Điền Trang, An Hà, Tân Hội, Phú Văn ... ? Không biết có ai biết không nhỉ?
Câu hỏi quá hốc búa của "ông chủ" khiến "cả nhà" đều "bức tóc" nhưng chưa ai biết hết.... ^^
Để có được những quyết sách đúng đắn, có lợi ích cho dân,... những người có trách nhiệm cần phải biết rõ những gì mình đang quản lý, đang phục vụ...
Câu hỏi này e mún hỏi lâu rùi mà k dám.
Mấy nay theo dõi mà k thấy ai trả lời đc.
Có hỏi ông bà mà ko biết nguồn gốc lun.
Nguồn gốc từ "Tư Nghĩa" xuất phát từ 2 Châu: Châu tư và Châu Nghĩa xuất hiện từ thời Nhà Hồ.
Sau khi Vua Lê Thánh Tông đánh chiếm vùng đất thuộc Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định ngày nay đã đặt tên Vùng đất Tư Nghĩa ngày nay là Huyện Nghĩa Giang.
Từ thời Lê Trung Hưng đến thời Nguyễn địa bàn huyện Tư Nghĩa ngày nay tên là Chương Nghĩa.
Năm 1980, huyện Chương Nghĩa đổi tên thành Tư Nghĩa.
Năm 1945 phủ Tư Nghĩa đổi tên thành phủ Nguyễn Thụy.
Đầu năm 1946 cấp tổng được bãi bỏ, các làng xã cũ hợp thành xã mới, phủ đổi thành huyện. Huyện Tư Nghĩa lúc này có 12 xã đều lấy chữ Nghĩa làm đầu: Nghĩa Lâm, Nghĩa Thương, Nghĩa Điền, Nghĩa Kỳ, Nghĩa Lộ, Nghĩa Trang, Nghĩa Thương, Nghĩa Phương, Nghĩa Dõng, Nghĩa Hiệp, Nghĩa Hòa, Nghĩa Hà.
=> [b]Như vậy thời kỳ này vùng đất Nghĩa Trung ta xuất hiện tên Nghĩa Trang[/b] (Tên này mà để đến bây giờ thì nghe có vẻ không hay tí nào bà con nhỉ - chú thích của La Quang Trí).
Sau khi tiếp quản Quảng Ngãi, Chính quyền Sài Gòn đổi tên các xã thuộc huyện Tư Nghĩa thay thế chữ Nghĩa bằng chữ Tư bắt đầu và Xã Nghĩa Trang của ta đổi thành xã Tư Duy.
Sau Năm 1975, Chính quyền mới lại đổi tên xã Tu Duy thành xã Nghĩa Trung như ngày hôm nay.
Ngày xưa Nghĩa Trung oách lắm đấy vì là Trung tâm của Phủ Tư Nghĩa xưa kia.
* Nguồn thông tin topic này cóp nhặt từ nhiều nguồn trên Internet và dư địa chí Quãng Ngãi
Không biết tên gọi Nghĩa Trung bắt nguồn từ đâu và bao giờ thì không rõ lắm (vì tôi chẳng tìm thấy tài liệu nào ghi cả) nhưng từ THỜI ĐỒNG KHÁNH (1885-1889) đã có những tên gọi như sau:
Tổng Nghĩa Trung 義 中 (có 29 xã, thôn, trại, ấp, vạn)
1. Trại Phú Định 富定
2. Trại Cựu Bình Thành 舊平成
3. Trại Tân Hội 新會
4. Trại Tân Bình 新平 (mới lập)
5. Trại Đại An 大安
6. Trại Long Bàn Tây 隆蟠西
7. Trại Lâm Sơn 林山
8. Trại An Hòa 安和
9. Vạn Bình Thành 平成
10. Thôn Điền Trang 田庄
11. Xã An Hà 安河
12. Thôn Ốc Nhiêu 饇饒 xã Phú Nhiêu 富饒
13. Trại Phú Vang 富榮 (mới lập)
14. Trại Phú Hòa 富和 (mới lập)
15. Xã Tình Ái 晴靄
16. Trại Xuân Vang 春 榮 (mới lập)
17. Vạn Tân Thành 新成
18. Trại An Định 安定 (mới lập)
19. Trại Phúc Hậu 福厚 (mới lập)
20. Xã La Châu 羅洲
21. Xã Phú Nhiêu 富饒
22. Trại An Sơn 安山
23. Ấp Kim Thành 金城 trại An Sơn
24. Trại Xuân Vinh Tây 春榮西
25. Thôn Châu Mỵ 朱眉
26. Ấp Xuân An 春安
27. Ấp Trung Sơn 中山
28. Ấp Trung Mỹ 中美
29. Ấp Bình An 平安
Ai có thông tin gì vui lòng bổ sung thêm ...