Các bạn thân mến, các bạn cũng đã đề xuất nhiều trong câu chuyện thứ 1 và thứ 2, riêng mình mạng phép tác giả xin đề cập đến vấn đề thứ 3.
Vấn đề mình nêu ra cũng mong các anh, chị ở UBND xã có gì vướng mắc, cũng góp ý luôn nhé
1- Số liệu thống kế của UBNF tỉnh Quảng Ngãi:
20 năm trôi qua kể từ khi tái lập tỉnh Quảng Ngãi (7/1989-7/2009), nhiều người cho rằng cái được lớn nhất của Quảng Ngãi đó là sự phát triển nhanh của ngành công nghiệp, mà cụ thể là việc thu hút gần 150 dự án đầu tư vào KKT Dung Quất với số vốn khoảng 10 tỷ USD, sự kiện Nhà máy lọc dầu Dung Quất sản xuất thành công các sản phẩm đưa ra thị trường tiêu thụ... là những động lực để Quảng Ngãi tăng tốc. Điều nhận định ấy hoàn toàn đúng nhưng chưa đủ, bởi ngoài công nghiệp ra, Quảng Ngãi còn đổi thay nhiều mặt ở các vùng đồng bằng, nông thôn và miền núi,hải đảo, chính vì thế đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng cải thiện và nâng cao rất đáng kể.
Quảng Ngãi một tỉnh có hơn 1,3 triệu dân đang sinh sống tại 14 huyện, thành phố trong tỉnh. Trong đó có 6 huyện miền núi đều xếp vào diện huyện nghèo của cả nước, một huyện hải đảo và 7 huyện, thành phố đồng bằng. Riêng 7 huyện, thành phố đồng bằng, hải đảo dân số chiếm khoảng hơn 75% toàn tỉnh, trong đó phần lớn sống bằng nghề sản xuất nông- ngư nghiệp. Ngay sau khi chia tách tỉnh từ Nghĩa Bình, tỉnh Quảng Ngãi tập trung xây dựng hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp. Đến cuối năm 2000, toàn tỉnh đã được xây dựng hơn 120 công trình thủy lợi lớn nhỏ với tổng chiều dài hơn 1.600km, trong đó công trình thủy lợi Thạch Nham có hơn 1.200 km đảm bảo nguồn nước tưới hơn 30.000 ha đất canh tác/vụ, mở ra triển vọng to lớn trong sản xuất nông nghiệp. Tiếp đến, giai đoạn 2001- 2005, Quảng Ngãi lại tiếp tục thực hiện hoàn thành Đề án chuyển đổi sản xuất từ 3 vụ sang 2 vụ lúa/năm; tiếp tục đầu tư 400 công trình thủy lợi các loại từ đồng bằng lên các huyện miền núi, thực hiện chương trình kiên cố hóa kênh mương gần 400 km; phát triển mạnh phong trào kinh tế trang trại, kinh tế vườn- ao- chuồng, nhờ đó trên địa tỉnh có hơn 400 trang trại vừa và nhỏ, cho thu nhập hàng năm hàng trăm triệu đồng mỗi năm từ 1 trang trại; tạo nhiều mô hình sản xuất kinh doanh giỏi trong sản xuất nông nghiệp. Nhờ đầu tư đồng bộ từ việc xây dựng công trình thủy lợi, hệ thống kênh mương, công tác khuyến nông được chú trọng nên đưa được nhiều loại giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt vào khắp các vùng trong tỉnh, từ đó diện tích, năng suất, sản lượng lương thực không ngừng tăng lên. Trong đó, năng suất lúa bình quân năm 1991 đạt 33 tạ/ha đến năm 2009 này dự kiến năng suất bình quân đạt 55 tạ/ha; sản lượng lương thực tăng từ 280.000 tấn năm 1991 lên gần 450.000 tấn năm 2009; đàn trâu có tốc độ tăng bình quân 2,12% năm, đến năm 2009 ước đạt 52.500 con, đàn bò tăng bình quân gần 4,9%, ước đạt gần 300.000 con. Bên cạnh đó, ngành thủy sản của tỉnh cũng đã phát triển mạnh mẽ trên nhiều mặt về khai thác, nuôi trồng và phát triển tàu thuyền đánh cá, năm 1995 toàn tỉnh có khoảng 3.000 chiếc với tổng công suất tàu thuyền khoảng 100.000 CV, sản lượng thủy sản đánh bắt 38.500 tấn thì đến năm 2009 này toàn tỉnh có trên 5.500 chiếc tàu thuyền với tổng công suất hơn 467.000 CV, trong đó riêng tàu có công suất lớn từ 90 CV- 450 CV chuyên khai thác xa bờ có 1.350 chiếc, sản lượng thủy sản đánh bắt ước đạt hơn 90.500 tấn. Trên lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, đến năm 2005, ngành thủy sản đã nuôi thử nghiệm và áp dụng thành công mô hình nuôi tôm công nghiệp trên cát, những năm gần đây hầu hết các huyện ven biển trong tỉnh đã phát triển lên gần 750 ha, nhất là hai huyện Mộ Đức và Đức Phổ thả nuôi trên 500 ha tôm thẻ chân trắng với năng suất bình quân từ 8- 10 tấn/ha/vụ, hàng trăn hộ nuôi tôm thâm canh đạt năng suất từ 15 tấn đến hơn 20 tấn/vụ và nông dân trong tỉnh thả nuôi trên 600 ha cá nước ngọt… đã đem lại nguồn thu nhập rất lớn cho người nuôi trồng thủy sản. Năm 2000, toàn tỉnh có 336.000 ha đất lâm nghiệp, chiếm 65% diện tích tự nhiên, độ che phủ của rừng đạt gần 28%, với phong trào phủ xanh đất trống đồi núi trọc, nhất là phong trào trồng rừng nguyên liệu bằng giống keo lai đã phát triển mạnh ở 6 huyện miền núi lên hàng chục nghìn ha rừng, đưa độ che phủ của rừng lên trên 43% năm 2009, hàng năm tại các huyện miền núi khai thác rừng nguyên liệu lên khoảng 150.000 tấn phục vụ chế biến xuất khẩu.
Cùng với việc phát triển toàn diện lĩnh vực nông-lâm- ngư nghiệp, trong 20 năm qua tỉnh Quảng Ngãi cũng đã đầu tư phát triển đáng kể vào lĩnh vực giao thông và hệ thống điện lưới phục vụ sinh hoạt và sản xuất ngày càng cao cho nhân dân. Đến năm 2009 tổng chiều dài các tuyến đường bộ trên địa bàn toàn tỉnh hơn 7.740 km, trong đó Quốc lộ 185 km; đường tỉnh gần 700 km, chiếm 9%; đường huyện gần 1.230km, chiếm gần 16%; đường xã, phường, thị trấn 1.976 km, chiếm 25,5%; đường thôn, khối phố 2.946 km, chiếm 38%; đường đô thị, đường KKT Dung Quất gần 240 km, đường kênh mương kết hợp giao thông 468 km- chiếm hơn 9%, mật độ bình quân trung bình 1,51km/km2. Trong đó, phong trào làm đường giao thông nông thôn và miền núi và phong trào bê tông hóa đường giao thông nông thôn đã và đang triển khai rộng rãi tại các địa phương trong tỉnh đạt nhiều kết quả. Ngày nay về các địa phương vùng nông thôn, miền núi, các tuyến đường giao thông liên thôn, liên xóm đã được xây dựng hoặc bê tông hóa tạo kiện đi lại dễ dàng, thuận lợi. Đặc biệt, thời gia qua những công trình cầu có vốn đầu tư lớn như cầu Trà Khúc 2, cầu Sông Vệ, cầu Cây Bứa (trên Quốc lộ IA), cầu Suối Tía, Long Mai (Minh Long), cầu Sông Liêng (Quốc lộ 24), cầu Cộng hòa (Nghĩa Hành), cầu Sông Rin (Sơn Hà), cầu sông Riềng (Tây Trà), và các tuyến đường tỉnh như đường Trà Bồng- Tây Trà, Sơn Hà- Sơn Tây và hàng chục tuyến đường liên huyện từ đồng bằng đến miền núi đã tạo điều kiện thuận lợi đi lại, giao lưu hàng hóa khắp các địa phương trong tỉnh ra ngoài tỉnh. Đối với ngành điện lực Quảng Ngãi cũng phát triển nhanh, từ chỗ hầu như khi tái lập tỉnh, điện lưới cũng chỉ có ở thị xã và mới đưa về đến trung tâm 6 huyện đồng bằng, còn hệ thống lưới điện đưa về cấp xã thì quá hiếm; các huyện miền núi vẫn “trắng điện”. Đến nay qua 20 năm phát triển, Điện lực Quảng Ngãi cũng đã xây dựng gần 200 km đường dây cao thế 35kV, hơn 1.750 km đường dây trung thế 15/22 kV và gần 1.500 km đường dây hạ thế 0,4 kV, đồng thời Điện lực cũng đã xây dựng 11 trạm biến áp trung gian với tổng công suất 61.400 kVA và 1.588 trạm biến áp phụ tải với tổng công suất gần 333.000 kVA. Nhờ đó, năm 2001 tỷ lệ hộ dân sử dụng điện đạt 79%, năm 2005 tăng lên 93% và dự kiến đến cuối năm 2009 tỷ lệ hộ dân sử dụng điện đạt 97,4%, có182/184 xã, phường, thị trấn sử dụng điện lưới Quốc gia (hai xã Ba Giang và Ba Liên huyện Ba Tơ mới tách xã đang lập phương án để cấp điện). Riêng tại huyện đảo Lý Sơn, những năm qua Điện lực Quảng Ngãi cũng đã lắp đặt cụm phát điện diesel với 7 tổ máy phát với tổng công suất lắp đặt 2,8 MW cung cấp cho 2 xã An Hải và An Vĩnh hàng ngày từ 17- 23 giờ theo phương thức cách nhật. Riêng xã đảo An Bình do dân cư quá ít nên chưa được cấp điện, đã có 25 hộ sử dụng điện năng lượng mặt trời. Ngày 30/7 này Tập đoàn Than- khoáng sản Việt Nam cũng đã khởi công xây dựng nhà máy nhiệt điện tại huyện đảo Lý Sơn với vốn đầu tư hơn 237 tỷ đồng, nhà máy có công suất hơn 6MW, nhà máy sẽ xây dựng hoàn thành và đưa vào sử đụng năm 2011. Song song với việc cung cấp điện cho nhân dân sử dụng rộng khắp trong tỉnh, Điện lực Quảng Ngãi cũng đã đưa hệ thống điện lưới quốc gia ưu tiên phục vụ đến tận hàng rào nhà máy tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và KKT Dung Quất, phục vụ đáp ứng nhu cầu điện cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Có thể khẳng định rằng, sau khi tái lập tỉnh, được sự quan tâm hỗ trợ và đầu tư của Trung ương, tỉnh Quảng Ngãi đã triển khai thực hiện mỗi năm cả trăm công trình. Chỉ tính riêng giai đoạn 2001- 2005, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh gần 19.300 tỷ đồng, bình quân 3.860 tỷ, tăng bình quân hàng năm gần 28,5% và giai đoạn 2006- 2009 tiếp tục đầu tư phát triển mạnh hơn với mức đầu tư tăng hàng năm gần 42%, từ đó tỉnh đã xây dựng hoàn thành hàng trăm công trình, dự án lớn trên địa bàn, tạo điệu kiện rất lớn cho nhân dân các vùng từ đồng bằng đến miền núi và hải đảo phát triển nhanh, toàn diện, giảm nhanh số hộ nghèo từ hơn 35% năm 2000 xuống còn 18% năm 2009. GDP bình quân đầu người trong tỉnh tăng nhanh từ 240.000 đồng năm 1989 lên 1,57 triệu đồng năm 2005; lên 2,65 triệu đồng năm 2000; tăng lên 5,11 triệu đồng năm 2005 và GDP bình quân đầu người năm 2009 ước tăng lên 14,2 triệu đồng, tính ra GDP bình quân đầu người sau 20 năm tái lập tỉnh tăng gần 60 lần.
Tỉnh Quảng Ngãi đề ra mục tiêu tiếp tục đầu tư và hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng vùng nông thôn, miền núi nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đời sống nhân dân về vật chất và tinh thần. Nâng thu nhập bình quân đầu người của nhân dân trong tỉnh từ mức 61% so với trung bình toàn quốc năm 2005 tăng lên khoảng gần 15% lần vào năm 2020 (khoảng 4.300- 4.500 USD/người); phấn đấu đến năm 2015 số hộ nghèo toàn tỉnh theo tiêu chí hiện nay giảm xuống còn dưới 10% và giảm xuống còn khoảng 8% vào năm 2020; đến năm 2020 trên 90% số xã miền núi đặc biệt khó khăn, xã vùng bãi ngang ven biển, hải đảo thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn; 100% tuyến đường giao thông đến xã và được nhựa hóa, 20-30% tuyến đường đến các thôn, bản được kiên cố; 100% hộ dân được sử dụng điện …
Với những thành quả đạt được trong 20 năm qua, tin tưởng rằng Quảng Ngãi sẽ đạt và vượt kế hoạch đề ra theo Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ 17, làm cho nền kinh tế tỉnh nhà ngày càng phát triển theo hướng bền vững, hệ thống kết cấu hạ tầng vùng nông thôn, miền núi ngày càng được xây dựng hoàn thiện, góp phần đưa Quảng Ngãi phát triển toàn diện trong thời gian tới.
2- Số liệu thực tế ở Nghĩa Trung: Ngoài con đường liên huyện đã được thâm nhập nhựa (từ UBND huyện Tư Nghĩa đia Nghĩa Hành qua thôn An Hà, điền trang, phú văn và con đường từ trường CĐTC kế toán đi Nghĩa Kỳ qua An hà 1, nghĩa điền) ta đã làm được con đường bê tông từ UBND xã đến Thôn Tân hội dài khoảng hơn1km, còn nhiều con đường nữa ta chưa làm được nhất là các đường về các thôn (riêng đường từ Ngã ba lên phú văn về đập mít đã có kế hoạch, đấu thầu xong chuẩn bị làm). Nếu so với tình hình xây dựng đường bê tông nông thôn xã ta so với các xã trong huyện và trong tỉnh còn thấp nhiều, chắc có lẽ có nhiều lý do, mình muốn các anh ở UBND xã có ý kiến, vướng bận gì các em Nghĩa Trung góp ý, đề xuất, sau đó chúng ta sẽ hoàn thiện. Xin góp ý chân thành, không được đỗlỗi cho ai nhé.
Rất cảm ơn anh Pthoang đã cung cấp rất nhiều số liệu về quê hương. Nếu những số liệu này mà có thể ghi chép đầy đủ chúng ta có thể sử dụng nó thành tư liệu đấy. Đôi khi các em sinh viên, học sinh khi cần viết đề tài hay gì đó nhưng những số liệu không biết tìm đâu.
Cảm ơn anh PhtHoang đã sưu tầm công phu nhưng QT nghĩ bây giờ phải làm sao,phải có ý kiến gì để bà con Nghĩa Trung mình tăng thu nhập,,theo QT biết đa số bà con mình còn nghèo lắm,nghèo tới cả ..miếng ăn,ăn uống kham khổ lắm các bạn ạ!có thật như vậy chứ khg phải QT bi quan đâu,nhà nào có người đi làm saigon thì còn đỡ,bà con nào chỉ biết lao động tại chỗ thì tội nghiệp lắm...!
Đúng như anh HOÀNG nói: Tỉnh ta đã có phát triễn.Sự thật đúng như vậy và Nghĩa Trung phải lấy sự phát triễn đó làm bàn đạp, phải "tương kế,tựu kế" để có lợi cho mình.
Quảng ngãi đã có phát triễn nghề rừng, có nghề chăn nuôi thủy sản,có phát triễn nông trại, có đàn trâu bò tăng hàng năm,có đóng mới tàu thuyền để tăng đánh bắt thủy sản,có hễ thống lưới điện tốt...đó là sự thật 100% khg thể phủ nhận.
NHƯNG với điều kiện địa lý hỏi thử Nghĩa Trung có phát triễn rừng được không?có chăn nuôi thủy sãn được không?có đàn trâu bò không?có đóng mới tàu thuyền để đánh bắt thủy sản không?,có dường,diện tốt không?
Đọc những con số của anh HOÀNG sưu tầm làm cho chúng ta phấn khởi và hy vọng nhưng có ích gì cho quê hương Nghĩa Trung mình dâu?.Nghĩa Trung hiện nay vẫn là cây LÚA và cây MÍA thôi.Cây Lúa thì làm một vụ với diện tích 500m2 chỉ lãi đươc 1 gánh lúa(tức 150ngàn đồng)đó là khg tính công lao động và nếu được mưa thuận gió hòa.Cây Mía thì luôn lặp lại "điệp khúc trồng và phá",còn nuôi Heo,Bò,Gà thì nhen nhúm,luôn luôn bị lỗ.Đường giao thông vẫn chưa có gì.Điện thì vẫn còn qua "Đại lý HTX"
Con Số anh HOÀNG sưu tầm là có thật nhưng đó chẳng qua chỉ là :Bác 2 có nhà lầu,Bác 3 có biệt thự,Chú 4 có xe hơi,Chú 5 có nông trại...và mọi người thấy vậy cứ tưởng"Cô 8 Nghĩa Trung" mình cũng có VÀNG nhiều lắm.! nhưng có ngờ đâu "Cô 8 mình" gạo ăn đong từng bữa!,,vì"Cô 8" có gì để làm ăn phát triễn đâu...Vấn đề bây giờ là phải hiểu thực lực "Cô 8 Nghĩa Trung" dể vạch hướng đi cho Cô phát triễn.Chuyện "Bác 2,Bác 3,Chú 4,Chú 5" đang giàu có là sự thât nhưng "Cô 8" chỉ nên lấy đó làm hãnh diện,làm chút "hương" thôi!,chứ không nên ỷ lại."Cô 8" phải lo chuyện của nhà mình thì mới tiến lên được.
Anh hùng Phạm Tuân đã bay ra vũ trụ năm 1980 là sự thật và mỗi người dân Vietnam ai cũng tự hào...nhưng thử hỏi có ích gì cho sự nghèo khó của người dân lúc đó!?
Đọc bài viết của anh HOÀNG chúng ta rất phấn khởi nhưng chỉ để cho sinh viên lấy số liệu làm đề tài thôi(như có ý kiến phản hồi như vậy)hoặc để cho UBND Tỉnh báo cáo với Trung Ương thôi!
Nghĩa Trung phải có kế họach riêng và dựa vào lợi thế của mình để tăng thu nhập cho người dân.Kế hoach như thế nào thì rất mong mọi người góp ý một cách căn cơ và thiết thực
QT xin cảm ơn và rất mong
QUỲNHTRANG
Ý kiến của quynhtrang đúng lắm. Anh Hùng Pham Tuân vào vũ trụ chỉ là nhờ các anh Hai Nga mà thôi. Ngoài ra người Việt Mình còn một người vào Vũng Trụ bằng tàu Con Thoi Comlumbia là Trịnh Hữu Châu. Tuy nhiên điều này sao sánh được với Dương Lợi Vĩ và Thần Châu 5 của China.
Tóm lại là làm sao có được cái riêng của mình. Nghĩa Trung phải là một Nghĩa Trung phát triển riêng chứ không phải Nghĩa Trung trong một Quảng Ngãi phát triển.
Đúng vậy, cái chúng ta cần là một Nghĩa Trung phát triển chứ không phải là một Nghĩa Trung nghèo trong một Quảng Ngãi phát triển như Anh lqtri đã nói.
Bạn quynhtrang có nói Anh 2, anh 3, anh 4, anh 5 (các Anh).. giàu trong khi cô 8 Nghĩa Trung lại nghèo, việc của cô 8 Nghĩa Trung (chính là các bạn đấy) bây giờ là phải tìm hiểu xem TẠI SAO các Anh lại giàu như thế mà mình lại nghèo, có phải các Anh trúng số độc đắc hay các Anh chịu khó làm ăn, biết phát huy các mạnh, hạn chế được điểm yếu.
Chúng ta cũng biết là các Anh giàu là tại vì các Anh có Trang Trại (vì các anh ở gần núi rừng), các Anh giàu là tại các Anh nuôi trồng thủy sản (vì các Anh ở gần biển). Vậy cô 8 Nghĩa Trung ở Nghĩa Trung - một vùng đồng bằng, hiện đất đai chủ yếu làm trồng lúa nước và hoa màu, hệ thống giao thông chưa phát triển lắm nhưng cũng tạm được, Tiền thì cũng có chút chút nhưng không bằng các Anh - Vậy, với thực lực như vậy cô 8 Nghĩa Trung sẽ làm gì để giàu bằng các Anh. Câu trả lời dành cho các bạn – đó là điều chúng tôi mong muốn – hãy hiến kế đi các bạn.
[b]Trở lại[/b] vấn đề anh pthoang đã đề cập : đó là phát triển hạ tầng giao thông ở Nghĩa Trung còn thấp nhiều so với các địa phương khác. Mong các bạn góp ý tại sao hệ thống giao thông ở xã kém phát triển như thế? làm thế nào để phát triển giao thông ở xã? Chứ chúng ta đừng xoáy sâu nào là “Nghĩa Trung nghèo lắm”, nào là không đủ ăn, nào là trình độ thấp, cái này để dành cho chuyên mục khác.
Để làm được đường giao thông thi chúng ta phải có TIỀN. Vì vậy vấn đề ở đây là làm thế nào để có TIỀN đầu tư cho giao thông. Theo tôi nghĩ TIỀN thì không thiếu, nó đang ở đâu đó rất gần với chúng ta, vấn đề là làm thế nào để chúng ta tập trung Tiền (từ nhiều nguồn khác nhau).
Nếu chúng ta ngồi 1 chỗ chờ cấp trên rót vốn để trãi nhựa hạ tầng thì "còn khuya" mới có đường sạch sẽ cho chúng ta đi. Vì vậy chúng ta phải tự thân vận động thôi.
Theo tôi thấy có một số cách để tạo ra nguồn Tiền để phát triển giao thông.
Thứ nhất : huy động vốn từ nhân dân để đầu tư đường xá theo hình thức nhà nước và nhân dân cùng làm, ở các địa phương khác người ta làm việc này rất hiệu quả. Việc này theo tôi được biết xã cũng làm rồi nhưng chưa hiệu quả cho lắm (nguyên nhân tôi cũng chưa biết nữa, nghe thông tin hành lang là do nhân dân chưa thống nhất được mức đóng góp hoặc các cấp thôn, xã chưa triệt để). Chuyện này có thể người ta cho rằng dân ta nghèo thì lấy tiền đâu ra mà góp. Vấn đề là ở chổ này. Chúng ta phải có cách huy động sao cho hợp lý, chẵng hạn như thu theo phương tiên lưu thông, 1 xe máy 2 bánh ? là bao nhiêu? 1 xe ôtô là bao nhiêu? một nhân khẩu là bao nhiêu? người hiến đất mở đường thì không thu…. Sau đó chúng ta huy động thêm các mạnh thường quân nhất là những gia đình giàu có, những gia đình có con em làm ăn xa, phát đạt, có xe ôtô, tết hay về quê sẽ đóng góp thêm để làm đường sạch sẽ, tết về đi đường sạch sẽ, rộng thích quá đi chứ.
Thứ hai : cách này là cách mà xã đang làm và cần được nhân rộng ở mức hợp lý. Đó là xã đâu tư hạ tầng khu dân cư để bán thu tiền và xin cấp trên để lại toàn bộ nguồn thu để phát triển hệ thống giao thông thủy lợi. Việc này chúng ta phải lập dự án đồng thời, đừng để tiền nộp vào ngân sách cấp trên lấy lại khó lắm.
Thứ ba : cách này hơi khó vì ngân sách xã còn eo hẹp nhưng quyết tâm thì chúng ta cũng có thể làm được, đó là xã sẽ chủ động ứng vốn từ ngân sách để đầu tư giao thông, sau đó sẽ thu thuế giao thông trong vòng 5 hoặc 10 năm để hoàn vốn lại cho ngân sách.
Thứ tư : cách này hiện nay khó thực hiện nhưng biết đâu trong một tương lai gần chúng ta sẽ thực hiện được, đó là xã hội hoá. Xã sẽ kêi gọi các cá nhân, tổ chức đầu tư theo hình thức BOT (xây dựng – kinh doanh - chuyển giao).
Một vài góp ý, mong bà con cho ý kiến thêm.
Chào thân ái.
Tùng nói đúng đấy, tại sao các xã đồng bằng ở Tư nghĩa kinh tế cũng như ta, sao họ làm được, đơn giản họ mạnh dạn tính toán.
Các bạn có biết không những năm trước đây chủ trương của Nhà nước làm đường bê tông nông thôn vốn Nhà nước 60%, nhân dân 40% (đối với đồng bằng), Nhà nước 80% nhân dân 20% (đối với miền núi), kinh phí đấy các xã làm rất tốt. đơn cử như có xã Phần Nhà nước 60%, dùng để mua nguyên vật liệu, còn 40% kêu gọi lao động địa phương, nếu anh không đóng góp bằng tiền thì đóng góp bằng ngày công...Kêu gọi mạnh thường quân (mình không nhầm năm 2008, các bạn cũng đã đóng góp cho xã gần nữa tỷ đấy thôi. Còn nhiều vấn đề tính toán nữa vận dụng chính sách được nhà nước cho phép, mình không tiện nói trên diễn đàn này. Xin Chào
Về chủ trương bê tông hóa nông thôn thì đã có lâu rồi. Mình nghĩ có thể do Xã mình đã chậm chân trong việc này. Tôi biết hình như từ khoảng 2005-2006 gì đó thì đã có nhưng mình không có gì còn nghĩa Hiệp thì họ đã làm được rất nhiều con đường vào tận từng thôn xóm.
- Sau này tôi có hỏi một số người thì được biết khi xã mình đề nghị thì chương trình đã tạm ngưng để dành vốn cho các dự án ở miền núi (chính xác không thì chưa biết).
=> Như vậy nói lên vấn đề gì? Đó là chính sách chủ trương thì có và mọi người sẽ được hưởng như nhau nhưng nếu ai chậm thì sẽ không còn, đơn giản thế thôi. Chính vì vậy, mong rằng khi có chủ trương gì thì Xã nhà nên khẩn trương họp để thống nhất, quyết định sớm.
Về công tác triển khai các chính sách phát triển hạ tầng giao rất mong các chú lãnh đạo xã tăng cường công tác tuyên truyền các chính sách đến người dân một cách rỏ ràng để dân được luôn luôn thấu hiểu, để dân thấy được cái lợi cho dân thì tôi nghĩ người dân nào cũng ủng hộ thôi.
Hơn nữa, khi thực hiện một việc chủ trương nào đó thì các chú lãnh đạo xã phải bám sát dân, để lắng nghe tâm tư nguyện vọng của người dân, phải có những chỉ đạo một cách triệt để, dứt khoát, không làm nửa vời, có như vậy mới thành công được.
Thành công 1 rồi sẽ có thành công 2,3,4...
Xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn hiện nay đi các nơi khá ta thấy đa phần đã được bê tông hóa nhưng vấn đề cơ sở hạ tầng ở xã mình quả thật là quá tệ, ngoài những con đường ăn theo của thị trấn la hà mở ngang qua an hà 1 thì chả có con đường nào ra hồn cả, thật đáng buồn cho xã của chúng ta. Tại sao lạ như vậy???
Nói không phải phân bì gì chứ mấy xã miền núi thì cho là chính sách ưu tiên phát triển miền núi, chứ mấy xã như nghĩa mỹ, nghĩa hà, nghĩa phương,... họ con những con đường bê tông hóa rất đẹp, thử hỏi có phải miền núi hay không? Theo tôi được biết hằng năm điều có ngân sách của chính phủ giành để xây dựng cơ sở hạ tầng nhưng tại sao xã ta lại như vậy, năm nào về quê cũng vậy ngoài bồi đắp ổ gà, mấy chỗ do lũ lụt làm hư hỏng thì chả có cái con đường nào ra hồn.
Tui nói không phải chê trách gì mấy đồng chí lãnh đạo xã mà chứ giả sử tui đứng vai trò như là một ngân hàng cho vay tiền sản xuất kinh doanh nếu anh không có dự án rõ ràng thì ai dám thẩm định cho anh vay tiền để đầu tư dự án đó. xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn cũng vậy thôi, nếu xã không có đề án, không có thuyết minh tính cấp thiết và hiệu quả của nó thì làm sao duyệt huyện rồi tỉnh, chính phủ duyệt chi ngân sách. Còn như đồng chí tungNV có nói bám sát dân, lắng nghe tâm tư nguyện vọng của dân cái này nghe lý thuyết quá, tui nghỉ là hơi thừa vì các đồng chí lãnh đạo cũng ở trong dân chứa đâu, lãnh đạo ở cấp cơ sở là sát với dân nhất họ thừa biết ý kiến của dân như thế nào và tui nghỉ họ cũng nhận ra điều đó chứ không phải không, vấn đề ở đây là họ chưa làm được do vấn đề về ngân sách hay là vấn đề gì đó khác.
Nhà nước và nhân dân cùng làm nghe hơi quen nhưng ở xã ta không có kinh phí thì lấy gì làm cùng với nhân dân, chứ nhân dân ai chả muốn có con đường sạch đẹp để đi.
Tui lấy ví dụ như dòng nước thạch nham cung cấp nước cho địa bàn tỉnh nếu chúng ta không có những con kinh tốt, thông thoáng dẫn nước về xã thì dòng nước này sẽ chảy tới xã khác,vấn đề kinh phí xây dựng giao thông cũng vậy thôi. Nếu chúng ta không có vẽ được đường cho dòng tiền chảy về xã mình thì nó sẽ chảy sang xã khác như vậy một nghĩa trung phát triển vẫn chỉ nằm mãi trong diễn đàn chứ không thể trở thành hiện thực được phải không các bác.